|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HUẾ THÀNH PHỐ HUẾ Bản án số: 119/2025/HS-ST Ngày: 19-12-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mộng Trinh.
Các Hội thẩm Nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trực và bà Mai Thị Toán.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Linh Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 12 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 1 - Huế, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 98/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Đức T (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 26 tháng 3 năm 1988 tại thành phố Hải Phòng; giới tính: Nam; CCCD số [...], do Cục trưởng Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C cấp ngày 22/02/2023; nơi đăng ký thường trú: Thôn L, xã A, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: A D, phường M, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức V (đã chết) và bà Trương Thị H; có vợ là Nguyễn Thị Mỹ A; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 03/6/2025, chuyển tạm giam từ ngày 09/6/2025 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Thị Mỹ A (Tên gọi khác: M), sinh ngày 03 tháng 01 năm 2002 tại thành phố H; giới tính: Nữ; CCCD số [...], do Cục trưởng Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C cấp ngày 10/02/2023; nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố A, phường H, thành phố H; nơi ở hiện nay: A D, phường M, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; có chồng là Nguyễn Đức T; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 03/6/2025, chuyển tạm giam từ ngày 09/6/2025 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Đức T: Cuối tháng 5/2025, Nguyễn Đức T liên hệ qua mạng xã hội Telegram đặt mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch và không nhớ thông tin cụ thể tài khoản Telegram của người này mua 01 lạng ma túy dạng "khay" và 50 viên ma túy dạng "kẹo" với giá 20.000.000 đồng và trả bằng tiền mặt, ma túy T đem về cất giấu ở nhà trọ tại A D, phường M, thành phố H để bán lại cho các đối tượng khác. Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 03/6/2025, T đang ở nhà thì có một người không rõ nhân thân, lai lịch gọi điện thoại đến T đặt mua 100 viên ma túy "kẹo" và 01 lạng ma túy dạng "khay" thỏa thuận giá bán là 60.000.000 đồng và hẹn địa điểm giao ma túy ở kiệt A V thuộc phường A, thành phố H. Sau đó T lấy ma túy bỏ vào hai túi ni lông màu trắng viền đỏ và bỏ chung vào trong một túi ni lông màu xanh giấu vào túi quần bên phải và điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Vision màu đỏ, biển kiểm soát 15AC-056.58 đến địa điểm hẹn giao ma túy. Đến khoảng 12 giờ 05 phút cùng ngày, khi T đang chạy trên đường K V thuộc khu vực 2, phường A thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại vị trí quần bên phải của T có 01 túi ni lông màu xanh bên ngoài có in dòng chũ SD An Thịnh, bên trong có 01 túi ni lông màu trắng viền đỏ có chứa 100 viên nén không rõ hình dạng, tất cả đều có màu xám và 01 túi ni lông màu trắng viền đỏ bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi thuê trọ của Nguyễn Đức T tại A D, phường M, thành phố H, Cơ quan điều tra thu giữ:
- Tại vị trí nền đất sau của hậu tầng 1 của nhà thu giữ 01 túi ni lông viền đỏ chứa 07 viên nén màu xám và 01 viên nén màu xanh;
- Tại vị trí thùng rác ở trong nhà vệ sinh tầng 2 của ngôi nhà thu giữ 01 túi ni lông màu trắng viền đỏ bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng vào 01 túi ni lông viền đỏ bên trong không có gì;
- Tại vị trí hộc tủ trong phòng ngủ đầu tiên bên trái tầng 2 của ngôi nhà phát hiện nhiêu túi zip màu trắng viền đỏ và 01 cân điện tử màu trắng, đã qua sử dụng.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi T thuê trọ nhưng không ở tại I Đ, phường H không thu giữ gì.
Qua trình điều tra, T khai trước đó khoảng cuối tháng 4/2025, đã mua của người đàn ông không rõ họ tên nói trên qua mạng Telegram 03 lạng ma túy "khay" và 200 viên ma túy dạng "kẹo" với tổng số tiền 155.000.000 đồng, số ma túy mua về đã bán cho nhiều người. Tuy nhiên, ngoài lời khai của T thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh lần mua ma túy này cũng như các lần đã bán.
Tại kết luận giám định số 333/KL-KTHS ngày 07/6/2025, Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận số ma túy bắt quả tang:
- Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định có khối lượng là 99,7893 gam là ma túy, loại Ketamine;
- 100 viên nén đều có màu xám gửi giám định có tổng khối lượng là 38,3550 gam là ma túy, loại MDMA và Methamphetamine;
- H2 lại đối tượng giám định gồm 99,6893 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng; 38,1550 gam mẫu bột được nghiền từ 100 viên nén đều có màu xám cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định. (BL:138).
Tại kết luận giám định số 334/KL-KTHS ngày 07/6/2025, Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận số ma túy thu giữ khi khám xét là:
- Viên nén màu xanh gửi giám định có khối lượng là 0,5280 gam là ma túy, loại Methamphetamine;
- 07 viên nén đều có màu xám gửi giám định có tổng khối lượng là 3,2139 gam là ma túy, loại Methamphetamine;
- Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định có khối lượng là 1,2577 gam là ma túy, loại Ketamine.
- H2 lại đối tượng giám định gồm 1,1577 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng; 0,3780 gam mẫu bột được nghiền từ viên nén màu xanh; 3,0639 gam mẫu bột được nghiền từ 07 viên nén đều có màu xám.
Nguyễn Đức T phạm tội trước ngày 01/7/2025, trong đó tổng khối lượng MDMA và Methamphetamine là 42,0969 gam quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự; khối lượng K là 101,047g quy định tại điểm e khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự, nên căn cứ khoản 4 Nghị định 19/2018/NĐ-Cp ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự thì tỷ lệ phần trăm tương ứng quy định tại khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự là:
- * Tỷ lệ % của MDMA và Methamphetamine là: 42,0969 x 100% = 42,0%;
- * Tỷ lệ % của K2 là: 101,047/300 x 100% = 33,6%
- Tổng tỷ lệ % của các chất là: 42,0% + 33,6% = 75,6% là dưới 100%.
Về hành vi che giấu tội phạm của Nguyễn Thị Mỹ A: Nguyễn Thị Mỹ A là vợ của Nguyễn Đức T, quá trình sống chung với nhau Mỹ A không biết chồng mình có mua bán trái phép chất ma túy. Vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 03/6/2025, Mỹ A liên lạc cho T nhưng không được nên đã liên lạc qua ứng dụng Messenger cho một người đàn ông tên Đ (facebook Đô N) là bạn xã hội quen biết với T và thường ghé nhà chơi, không rõ họ tên thật và lai lịch để hỏi thì người này nói "coi tìm trong phòng có gì thì vứt đi". Nghe xong Mỹ A tìm thì thấy 02 túi ni lông màu trắng viền đỏ bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng trong hộc tủ áo quần ở phòng ngủ tầng 02, Mỹ A biết đây là ma túy do có sử dụng trước đây nên đã lấy 01 túi đổ hết vào bồn vệ sinh ở tầng 02, túi ni lông còn lại thì vứt vào thùng rác nhà vệ sinh tầng 02 với mục đích che giấu hành vi phạm tội của T. Sau đó Mỹ A xóa hộp thoại tin nhắn trên Messenger với người tên Đ.
Tại kết luận giám định đường vân (các túi ni lông chứa các viên nén và tinh thể rắn khi khám xét chỗ ở của T) số 335/KL-KTHS ngày 05/6/2025, Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận:
- - Xử lý trên các mẫu vật cần giám định phát hiện dấu vết 01 đường vân, đánh số 1 trên mẫu vật ký hiệu A3; các mẫu vật còn lại không phát hiện dấu vết đường vân. Dấu vết số 1 đủ yếu tố giám định.
- - Dấu vết đường vân số 1 (nêu trên) với vân tay trên chỉ bản ghi họ tên Nguyễn Thị Mỹ A do một người in ra.
* Vật chứng, đồ vật tạm giữ:
- - Thu giữ của Nguyễn Đức T: 99,6893 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng; 38,1550 gam mẫu bột được nghiền từ 100 viên nén đều có màu xám hoàn lại sau giám định cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định; 1,1577 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng; 0,3780 gam mẫu bột được nghiền từ viên nén màu xanh; 3,0639 gam mẫu bột được nghiền từ 07 viên nén đều có màu xám hoàn lại sau giám định cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định; 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi 13 Lite, màu đen, I, Imei2: 866583063795833 đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision màu đen, biển kiểm soát 15AC - 05658, số khung RLHJK0357PY135137, số máy JK03E8279320 đã qua sử dụng; 01 cân điện tử màu xám.
- - Thu giữ của Nguyễn Thị Mỹ A: 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 12 màu đen, Imei số 862938060185921 đã qua sử dụng bị vỡ màn hình.
Các đối tượng bán ma túy cho T nhưng chỉ liên hệ qua tài khoản mạng xã hội, không biết rõ nhân thân lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để xử lý. Chủ cơ sở nơi T thuê trọ không biết việc mua bán trái phép chất ma túy của T nên không vi phạm pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 01/CT-VKSH-P1 ngày 27 tháng 10 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố Nguyễn Đức T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Thị Mỹ A về tội “Che giấu tội phạm” theo khoản 1 Điều 389 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Huế giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Thị Mỹ A phạm tội “Che giấu tội phạm”:
Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 16 đến 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù, kể từ ngày tạm giữ 03/6/2025.
Áp dụng khoản 1 Điều 389; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ A 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Che giấu tội phạm”.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 99,6893 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng; 38,1550 gam mẫu bột được nghiền từ 100 viên nén đều có màu xám hoàn lại sau giám định; 1,1577 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng; 0,3780 gam mẫu bột được nghiền từ viên nén màu xanh; 3,0639 gam mẫu bột được nghiền từ 07 viên nén đều có màu xám hoàn lại sau giám định; 01 cân điện tử màu xám;
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi 13 Lite, màu đen, I, Imei2: 866583063795833 đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision màu đen, biển kiểm soát 15AC - 05658, số khung RLHJK0357PY135137, số máy JK03E8279320 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 12 màu đen, Imei 862938060185921 đã qua sử dụng.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ kết quả tranh tụng trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, đủ căn cứ kết luận:
Vào lúc 12 giờ 05 phút ngày 03/6/2025 tại đường K V thuộc khu V, phường A, thành phố H, Nguyễn Đức T bị bắt quả tang đang tàng trữ trái phép chất ma túy để đi giao bán. Tổng khối lượng ma túy thu giữ khi bắt quả tang và thu giữ khi khám xét là 101,0470 gam Ketamine, 3,7410 gam Methamphetamine và 38,3550 gam Methamphetamine + MDMA. Số ma túy này T mua của một đối tượng thông qua tài khoản Telegram không rõ nhân thân, lai lịch nhằm mục đích bán lại.
Nguyễn Đức T thực hiện hành vi mua bán ma túy trước ngày 01/7/2025, trong đó tổng khối lượng MDMA và Methamphetamine là 42,0969 gam quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự; khối lượng K là 101,047g quy định tại điểm e khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự, nên căn cứ khoản 4 Nghị định 19/2018/NĐ-Cp ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự thì tỷ lệ phần trăm tương ứng quy định tại khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự là:
- Tỷ lệ % của MDMA và Methamphetamine là: 42,0969 x 100% = 42,0%;
- Tỷ lệ % của K2 là: 101,047/300 x 100% = 33,6%
- Tổng tỷ lệ % của các chất là: 42,0% + 33,6% = 75,6% là dưới 100%
Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Đức T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ A: Mặc dù trước đó không biết về hành vi mua bán ma túy của T nhưng khi T đã bị phát hiện vì muốn che giấu hành vi của chồng là Nguyễn Đức T nên đã tiêu hủy một số ma túy do T cất giấu, nên hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Che giấu tội phạm” theo điểm e khoản 1 Điều 389 Bộ luật Hình sự.
Do đó, cáo trạng số 01/CT-VKSH-P1 ngày 27 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Thị Mỹ A về tội “Che giấu tội phạm” theo khoản 1 Điều 389 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của Nguyễn Đức T thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân và ma tuý để sử dụng nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Đối với hành vi của Nguyễn Thị Mỹ A, mặc dù không được bàn bạc, trao đổi từ trước nhưng khi nhận thấy chồng mình có khả năng bị phát hiện và được người có tên facebook là “Đô N” nhắc nhở "coi tìm trong phòng có gì thì vứt đi" thì bị cáo A đã lục tìm và tiêu hủy chứng cứ phạm tội của chồng là ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội. Vì vậy cần có một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Thị Mỹ A không phạm vào tình tiết tăng nặng nào. Cả hai bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 túi niêm phong bằng giấy mã số PS3-1906396 bên trong chứa: 99,6893 gam ma túy loại Ketamin, 38,1550 gam ma túy loại Methamphetamin và MDMA; 01 túi niêm phong bằng giấy mã số PS3-1906397 bên trong chứa: 0,3780 gam ma túy loại Methamphetamin, 3,0639 gam ma túy loại Methamphetamin và 1,1577 gam ma túy loại Ketamin; 01 túi niêm phong bằng nilong mã số NS3A 55681 bên trong chứa túi ni lông viền đỏ.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước công cụ, phương tiện mà các bị cáo dùng phạm tội: 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi 13 Lite, I, Imei2 866583063795833 của Nguyễn Đức T; 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 12, Imei 862938060185921 đã qua sử dụng của Nguyễn Thị Mỹ A; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, biển kiểm soát 15AC - 05658, số khung RLHJK0357PY135137, số máy JK03E8279320 đã qua sử dụng của Nguyễn Đức T; 01 cân điện tử màu xám.
[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Thị Mỹ A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Thị Mỹ A phạm tội “Che giấu tội phạm”:
1. Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 15 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ 03/6/2025.
2. Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 389; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ A 09 tháng tù về tội “Che giấu tội phạm”. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ 03/6/2025.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 túi niêm phong bằng giấy mã số PS3-1906396 bên trong chứa: 99,6893 gam ma túy loại Ketamin, 38,1550 gam ma túy loại Methamphetamin và MDMA; 01 túi niêm phong bằng giấy mã số PS3-1906397 bên trong chứa: 0,3780 gam ma túy loại Methamphetamin, 3,0639 gam ma túy loại Methamphetamin và 1,1577 gam ma túy loại Ketamin; 01 túi niêm phong bằng nilong mã số NS3A 55681 bên trong chứa túi ni lông viền đỏ.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi 13 Lite, I, Imei2 866583063795833 đã qua sử dụng của Nguyễn Đức T; 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 12, Imei 862938060185921 đã qua sử dụng của Nguyễn Thị Mỹ A; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, biển kiểm soát 15AC - 05658, số khung RLHJK0357PY135137, số máy JK03E8279320 đã qua sử dụng của Nguyễn Đức T; 01 cân điện tử màu xám.
(Các vật chứng trên có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/11/2025 giữa phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Huế và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Thị Mỹ A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Mộng Trinh |
Bản án số 119/2025/HS-ST ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và che giấu tội phạm)
- Số bản án: 119/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Che giấu tội phạm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Thành
