Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 116/2025/HSST

Ngày: 18/12/2025


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Huy Long

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Cát và bà Phạm Thị Thu Hà

Thư ký phiên toà: Ông Trần Trọng Nghĩa – Thẩm tra viên Toà án nhân dân Khu vực 1 - Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Nghệ An: Ông Nguyễn Quang Thành, kiểm sát viên.

Ngày 18/12/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 104/2025/HSST ngày 14/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124 ngày 01/12/2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Thị Tú O; Sinh ngày 09/11/1975, tại tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: số D, đường M, khối I N, phường V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình T; Con bà: Phạm Thị P; Chồng: Nguyễn Ngọc T1 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/9/2025 đến ngày 24/9/2025; Hiện tại ngoại; Có mặt tại phiên toà.
  2. Họ và tên: Nguyễn Thị D; Sinh ngày 20/7/1982, tại phường V, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: khối C P, phường V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hồng T2; Con bà: Lưu Thị L; Chồng: Huỳnh Ngọc T3 (Đã ly hôn) và có 03 con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/9/2025 đến ngày 24/9/2025; Hiện tại ngoại; Có mặt tại phiên toà.
  3. Họ và tên: Trần Thị P1; Sinh ngày 20/12/1993, tại phường V, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: khối T, phường V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn N; Con bà: Nguyễn Thị T4; Chồng: Võ Văn T5 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/9/2025 đến ngày 22/9/2025; Hiện tại ngoại; Có mặt tại phiên toà.
  4. Họ và tên: Bùi Ngọc H; Sinh ngày 04/10/1974, tại tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: khối A N, phường V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Ngọc T6 (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị H1; Vợ: Nguyễn Thị L1 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 07/10/2004 bị Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “ Vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”;Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/9/2025 đến ngày 21/9/2025; Hiện tại ngoại; Có mặt tại phiên toà.
  5. Họ và tên: Nguyễn Trung T7; Sinh ngày 15/9/1982, tại tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: khối T, phường V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Trung K (Đã chết); Con bà: Phùng Thị K1; Vợ: Trần Thị D1 và có 04 con; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 21/01/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An phạt tiền 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, đã chấp hành xong bản án ngày 05/6/2014;Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/9/2025 đến ngày 19/9/2025; Hiện tại ngoại; Có mặt tại phiên toà.
  6. Họ và tên: Nguyễn Đình C; Sinh ngày 20/3/1971, tại phường V, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: khối I P, phường V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình Đ (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị H2(Đã chết); Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/9/2025 đến ngày 18/9/2025; Hiện tại ngoại; Có mặt tại phiên toà.
  7. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ2; Sinh ngày 07/8/1997, tại phường V, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: khối F N, phường V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn K2; Con bà: Phạm Thị H3; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/9/2025 đến ngày 21/9/2025; Hiện tại ngoại; Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thông qua các mối quan hệ xã hội, Nguyễn Thị Tú O tham gia đánh bạc bằng hình thức nhận đánh số lô, đề với Nguyễn Đình C, Nguyễn Văn Đ2, Bùi Ngọc H và Nguyễn Thị D. Để đánh bạc với O thì D nhận đánh số lô, đề với Nguyễn Trung T7 và Trần Thị P1. Các đối tượng nhận tin nhắn đánh bạc bằng số lô, đề qua ứng dụng Zalo, facebook, ứng dụng Telegram hoặc tin nhắn điện thoại. Kết quả thắng thua dựa trên kết quả quay thưởng của Xổ số Kiến thiết Miền Bắc kết thúc vào 18 giờ 30 phút trong ngày. Sau khi có kết quả thắng thua sẽ thanh toán tiền thắng thua, cho các đối tượng vào ngày hôm sau hoặc khi có yêu cầu. Hành vi đánh bạc giữa các đối tượng, cụ thể như sau:

  1. 1. Hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị Tú O với Nguyễn Đình C:
    Vào lúc 20 giờ 29 phút ngày 14/9/2025, C sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, có số IMEI1: 351263405774182, IMEI2: 351263445774190, bên trong lắp sim số 0912107804 nhắn 01 tin nhắn đến số điện thoại 0943.799.xxx của O để đánh Kết quả số lô, số đề mở thưởng vào ngày 15/09/2025. Cụ thể: C đánh 200 điểm lô với số tiền 4.400.000 đồng và đánh Xiên số tiền 4.000.000 đồng. Đến 16 giờ 19 phút ngày 15/09/2025, O nhắn lại cho C đồng ý đánh bạc bằng số lô, đề mở thưởng vào ngày 15/9/2025). Tiếp đến vào lúc 17 giờ 49 phút ngày 15/9/2025, C tiếp tục sử dụng chiếc điện thoại di động và sim điện thoại nói trên nhắn 03 tin đến số điện thoại 0943.799.xxx của O để đánh 130 điểm lô với số tiền 2.860.000 đồng và đánh số đề với số tiền 1.800.000 đồng. Tổng số tiền C tham gia đánh bạc với O tại Kết quả mở thưởng Xổ số Miền Bắc ngày 15/9/2025 là 13.060.000 đồng.
  2. 2. Hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị Tú O với Nguyễn Văn Đ2:
    Ngày 15/9/2025, Đ2 sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s màu đen, có số IMEI 1: 868683047782473, số IMEI 2: 868683047782465, bên trong lắp sim số 0975152546, cài đặt ứng dụng Telegram tên “Hoa Pham” đăng ký bằng số điện thoại 0975.152.xxx, nhắn tin đánh số lô, số đề đến tài khoản T8 có tên “00” đăng ký bằng số điện thoại “0838.721.xxx” của O. Đ2 đánh 400 điểm lô với số tiền 8.800.000 đồng, đánh đề với số tiền 36.000 đồng và đánh ba càng với số tiền 30.000 đồng. Tổng số tiền Đ2 đánh bạc với O ngày 15/9/2025 là 8.866.000 đồng.
  3. 3. Hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị Tú O với Bùi Ngọc H:
    Ngày 15/9/2025, H sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05, màu đen, số IMEI 1: 354037354496584, số IMEI 2: 356850294496581, bên trong lăp sim số 0837449189, đăng nhập tài khoản Zalo tên “Huy Hoàng” đăng ký số điện thoại 0837.449.xxx nhắn tin đánh số lô, đề đến tài khoản Zalo tên “Nguyễn Hải N1” đăng ký số điện thoại 0943.799.xxx của O. H nhắn 02 tin nhắn để đánh 985 điểm số với số tiền 21.670.000 đồng; đánh số đề với tổng số tiền 2.292.000 đồng; đánh X với tổng số tiền 1.810.000 đồng và đánh ba càng số tiền 50.000 đồng. Tổng số tiền H đánh bạc với O ngày 15/9/2025 là: 25.822.000 đồng.
  4. 4. Hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị Tú O với Nguyễn Thị D:
    Ngày 15/9/2025, D sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno8 Z 5G, số IMEI 1: 863921067765498, IMEI 2: 863921067765480, bên trong lắp sim số 0869852334, đăng ký ứng dụng Telegram tên “D HD” đăng kí bằng số thuê bao 0377007358 nhắn tin đánh bạc đến tài khoản Telegram “Edixon đăng kí số thuê bao 0838721169 của O. D nhắn 04 tin nhắn đánh 4.800 điểm lô với tổng số tiền 105.600.000 đồng; Đ1 đề với tổng số tiền 3.280.000 đồng. Tổng số tiền D đánh bạc với O ngày 15/9/2025 là 108.880.000 đồng.

Tổng số tiền Nguyễn Thị Tú O đánh bạc với Nguyễn Đình C, Nguyễn Văn Đ2, Bùi Ngọc H, Nguyễn Thị D vào ngày 15/9/2025 là 156.628.000 đồng.

  1. 5. Hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị D với Nguyễn Trung T7:
    Ngày 15/9/2025, T7 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu đen, số IMEI1: “869945063767574”, số IMEI2: “869945063767566" bên trong lắp sim số 0979883225 nhắn tin đến số điện thoại 0981.998.xxx của D được lắp trong chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno12F, màu cam, có số IMEI1: 867650075628036; IMEI2: 867650075628028. T7 nhắn tin đánh 600 điểm lô với tổng số tiền 13.800.000 đồng và đánh số đề với tổng số tiền 1.500.000 đồng. Tổng số tiền T7 đánh bạc với D ngày 15/9/2025 là 15.300.000 đồng.
  2. 6. Hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị D với Trần Thị P1:
    Ngày 15/9/2025, P1 sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, số IMEI: “355344082263966”, bên trong lắp sim số thuê bao “0338939848” để đăng nhập vào tài khoản Messenger tên “Phuong Tran” nhắn tin đến tài khoản Messenger “Nguyễn Dung” của Nguyễn Thị D để đánh bạc bằng hình thức đánh số lô. P1 đánh 4000 điểm số lô với tổng số tiền 92.000.000 đồng. Tổng số tiền P1 đánh bạc với D ngày 15/9/2025 là: 92.000.000 đồng.

Đến 18 giờ 25 phút ngày 15/9/2025, thông qua nguồn tin cung cấp từ quần chúng nhân dân, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh N triệu tập các đối tượng lên làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Tú O, Nguyễn Đình Cường Nguyễn Văn Đ2, Bùi Ngọc H, Nguyễn Thị D, Nguyễn Trung T7, Trần Thị P1 đã đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình. Do hành vi đánh số lô, số đề bị phát hiện trước thời điểm mở thưởng nên số tiền các các đối tượng tham gia đánh bạc như sau: Nguyễn Thị Tú O đánh bạc với số tiền 156.628.000 đồng; Nguyễn Thị D đánh bạc với số tiền 108.880.000 đồng; Nguyễn Thị P2 đánh bạc với số tiền 92.000.000 đồng; Bùi Ngọc H đánh bạc với số tiền 25.822.000 đồng Nguyễn Trung T7 đánh bạc với số tiền 15.300.000 đồng; Nguyễn Đình C đánh bạc với số tiền 13.060.000 đồng; Nguyễn Văn Đ2 đánh bạc với số tiền 8.866.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKS-KV1 ngày 12/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Nghệ An đã truy tố: Nguyễn Thị Tú O, Nguyễn Thị D, Trần Thị P1 về tội “Đánh bạc” quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Bùi Ngọc H, Nguyễn Trung T7, Nguyễn Đình C, Nguyễn Văn Đ2 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Nghệ An thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Xử phạt Nguyễn Thị Tú O, Nguyễn Thị D, Trần Thị P1 mỗi bị cáo 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 05 năm; Xử phạt Bùi Ngọc H từ 30 đến 35 triệu đồng; Nguyễn Trung T7 từ 35 đến 40 triệu đồng; Nguyễn Đình C và Nguyễn Văn Đ2 mỗi bị cáo từ 20 đến 25 triệu đồng đều về tội “Đánh bạc”.

Các bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy đủ cơ sở để kết luận: Vì hám lợi nên khoảng 18 giờ 25 phút ngày 15/9/2025, Nguyễn Thị Tú O tham gia đánh bạc bằng hình thức nhận tin nhắn qua điện thoại di động đánh số lô, số đề với Nguyễn Đình C, Nguyễn Văn Đ2, Bùi Ngọc H và Nguyễn Thị D. Để đánh bạc với O thì D nhận tin nhắn đánh số lô, số đề từ Nguyễn Trung T7 và Trần Thị P1. Do hành vi phạm tội bị phát hiện trước thời điểm mở thưởng nên số tiền các các bị cáo tham gia đánh bạc như sau: O đánh bạc với số tiền 156.628.000 đồng; D đánh bạc với số tiền 108.880.000 đồng; P1 đánh bạc với số tiền 92.000.000 đồng; H đánh bạc với số tiền 25.822.000 đồng; T7 đánh bạc với số tiền 15.300.000 đồng; C đánh bạc với số tiền 13.060.000 đồng; Đ2 đánh bạc với số tiền 8.866.000 đồng.

Như vậy, hành vi của các bị cáo đã phạm tội "Đánh bạc", số tiền các bị cáo Nguyễn Thị Tú O, Nguyễn Thị D, Trần Thị P1 sử dụng để đánh bạc trên 50.000.000 đồng nên vi phạm điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Bùi Ngọc H, Nguyễn Trung T7, Nguyễn Đình C, Nguyễn Văn Đ2 sử dụng số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nên đều vi phạm khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[2.2]. Xét tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, vì vậy cần xét xử nghiêm minh đối với các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; Các bị cáo đã tự nguyện đầu thú; Chồng bị cáo Nguyễn Thị Tú O, bố mẹ Nguyễn Thị D đều là thương binh... vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho tất cả các bị cáo và áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo Nguyễn Đình C, Nguyễn Trung T7.

Xét các bị cáo phạm tội đồng phạm giản đơn, không có cấu kết, phân hóa vai trò cho nhau. Đối với Nguyễn Thị Tú O, Nguyễn Thị D và Trần Thị P1 phạm tội nghiêm trọng nhưng các bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo giục đối với các bị cáo.

Đối với các bị cáo Bùi Ngọc H, Nguyễn Trung T7 tuy có nhân thân xấu nhưng đã được xóa án từ rất lâu, các bị cáo Nguyễn Đình C, Nguyễn Văn Đ2 phạm tội lần đầu nên chỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ nghiêm.

[2.3]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Nguyễn Thị Tú O, Nguyễn Thị D và Trần Thị P1 cần áp dụng khoản 3 điều 321 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Các bị cáo còn lại áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên cần miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[2.3]. Về vật chứng: 08 chiếc điện thoại thu giữ của các bị cáo đều sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

[2.4]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 2, khoản 3 điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tú O 36(Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60(Sáu mươi) tháng về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường V, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị Tú O 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

  2. Căn cứ vào điểm b khoản 2, khoản 3 điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 36(Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60(Sáu mươi) tháng về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường V, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị D 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

  3. Căn cứ vào điểm b khoản 2, khoản 3 điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thị P1 36(Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60(Sáu mươi) tháng về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường V, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Phạt tiền bị cáo Trần Thị P1 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

    Gia đình các bị cáo được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  4. Căn cứ vào khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 35 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc H 30.000.000(Ba mươi triệu) đồng về tội “Đánh bạc”.
  5. Căn cứ vào khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 35 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T7 35.000.000(Ba lăm triệu) đồng về tội “Đánh bạc”.
  6. Căn cứ vào khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 35 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C 25.000.000(Hai mươi lăm triệu) đồng về tội “Đánh bạc”.
  7. Căn cứ vào khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 35 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ2 25.000.000(Hai mươi lăm triệu) đồng về tội “Đánh bạc”.
  8. 2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu đen, có số IMEI: 354851091066801 thu giữ của Nguyễn Thị Tú O; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, có số IMEI1: 351263405774182, IMEI2: 351263445774190 thu giữ của Nguyễn Đình C; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s màu đen, có số IMEI 1: 868683047782473, số IMEI 2: 868683047782465 thu giữ của Nguyễn Văn Đ2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05, màu đen, số IMEI 1: 354037354496584, số IMEI 2: 356850294496581 thu giữ của Bùi Ngọc H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno8 Z 5G, số IMEI 1: 863921067765498, IMEI 2: 863921067765480 và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno12F, màu cam, có số IMEI1: 867650075628036; IMEI2: 867650075628028thu giữ của Nguyễn Thị D; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu đen thu giữ của Nguyễn Trung T7; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, số IMEI: “355344082263966” thu giữ của Trần Thị P1(Vật chứng hiện có tại có tại kho vật chứng của Phòng thi hành án dân sự Khu vực 1 – Nghệ An theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/12/2025).
  9. 3. Về án phí: Căn cứ vào điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án buộc các bị cáo Nguyễn Thị Tú O, Nguyễn Thị D, Trần Thị P1, Bùi Ngọc H, Nguyễn Trung T7, Nguyễn Đình C và Nguyễn Văn Đ2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.
  10. 4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Khu vực 1-Nghệ An
  • - VKSND tỉnh Nghệ An
  • - Công an tỉnh Nghệ An
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An
  • - Những người tham gia tố tụng
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo
  • - Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Huy Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2025/HSST ngày 18/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NGHỆ AN về tội "đánh bạc"

  • Số bản án: 116/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tội "Đánh bạc"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T O và đồng phạm "Đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger