|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG Bản án số: 108/2025/HNGĐ-ST Ngày 19 tháng 12 năm 2025 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thám.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Ngọc Nguyên;
- Ông Trần Hùng Bích.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Kim Nhuần - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 292/2025/TLST-HNGĐ ngày 10/11/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 431/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Trần Quy V, sinh năm 1983; nơi cư trú: số F, khóm T, phường L, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Bà Cao Thị P, sinh năm 1986; nơi cư trú: số I, khóm T, phường L, tỉnh An Giang.
Ông Trần Quy V, bà Cao Thị P đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai nguyên đơn ông Trần Quy V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông V và bà P kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, An Giang, số 269 ngày 13/09/2004. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 bà P lên Thành phố Hồ Chí Minh làm ăn nên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, cả hai đã sống ly thân từ khoảng tháng 4 năm 2018 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với bà Cao Thị P .
Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Trần Cao Minh T, sinh ngày 11/10/2004. Hiện đã trưởng thành, tự chăm sóc bản thân nên không yêu cầu giải quyết.
Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 28/11/2025, bị đơn bà Cao Thị P có ý kiến trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà P thống nhất nội dung trình bày của ông V, bà P và ông V kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, An Giang, số 269 ngày 13/09/2004. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 bà P lên Thành phố Hồ Chí Minh làm ăn nên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, cả hai đã sống ly thân từ khoảng tháng 4 năm 2018 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với ông Trần Quy V.
Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Trần Cao Minh T, sinh ngày 11/10/2004. Hiện đã trưởng thành, tự chăm sóc bản thân nên không yêu cầu giải quyết.
Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Trần Quy V, bà Cao Thị P đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Cam kết không khiếu nại về sau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được kiểm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Ông Trần Quy V và bà Cao Thị P cùng cư trú tại phường L, tỉnh An Giang. Nên nguyên đơn khởi kiện ly hôn với bị đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Ông Trần Quy V và bà Cao Thị P kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2001, có đăng ký kết hôn số 269 ngày 13/09/2004 tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, cả hai đã sống ly thân từ khoảng tháng 4 năm 2018 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên cả hai đều yêu cầu ly hôn.
Xét thấy, hôn nhân giữa ông V, bà P không còn tình cảm, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông Trần Quy V ly hôn với bà Cao Thị P theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung: Ông Trần Quy V và bà Cao Thị P có 01 con chung tên Trần Cao Minh T, sinh ngày 11/10/2004. Hiện đã trưởng thành, tự chăm sóc bản thân. Không xem xét.
Về tài sản, nợ chung không có: Không xem xét.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, ông Trần Quy V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Ông Trần Quy V ly hôn với bà Cao Thị P.
Về con chung: có 01 con chung tên Trần Cao Minh T, sinh ngày 11/10/2004. Hiện đã trưởng thành, tự chăm sóc bản thân. Không xem xét.
Về tài sản, nợ chung không có: Không xem xét.
Về án phí:
Ông Trần Quy V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0007835 ngày 07/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Về quyền kháng cáo:
Ông Trần Quy V, bà Cao Thị P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Thám |
Bản án số 108/2025/HNGĐ-ST ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 108/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Về quan hệ hôn nhân: Ông Vũ và bà Phưng kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên, An Giang, số 269 ngày 13/09/2004. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 bà Phưng lên Thành phố Hồ Chí Minh làm ăn nên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, cả hai đã sống ly thân từ khoảng tháng 4 năm 2018 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với bà Cao Thị Phưng . - Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Trần Cao Minh Trường, sinh ngày 11/10/2004. Hiện đã trưởng thành, tự chăm sóc bản thân nên không yêu cầu giải quyết. - Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
