Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 107/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 05/12/2025
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đại Đồng.

Ông Phan Mạnh Tưởng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khuyến – Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 279/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 80/2025/QÐST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị T, sinh ngày 08/01/1991.

Nơi đăng ký thường trú: thôn B, xã Ứ, thành phố Hà Nội.

Căn cước công dân số: [...].

- Bị đơn: Anh Dư Anh T1, sinh ngày 04/8/1992.

Căn cước công dân số: [...].

Nơi đăng ký thường trú: thôn B, xã Ứ, thành phố Hà Nội.

(Nguyên đơn vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết nguyên đơn chị Đỗ Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Dư A Tài tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 02/3/2017 tại UBND xã L, huyện Ứ, thành phố Hà Nội (nay là xã Ứ, thành phố Hà Nội). Vợ chồng tôi chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng trong quan điểm, lối sống, thường xuyên cãi vã xung đột, anh T1 ham chơi không tu chí làm ăn, không quan tâm đến gia đình. Chị đã tìm nhiều biện pháp để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không có kết quả. Vợ chồng chị đã ly thân từ tháng 12/2024 đến nay, mỗi người một cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị xin ly hôn anh Dư Anh T1 để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Chị và anh Dư Anh T1 có 01 con chung là Dư Đỗ Nhật A, sinh ngày 31/7/2017. Hiện nay cháu A ở với anh T1. Ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng cháu A.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai của bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1970 (là mẹ đẻ của anh Dư A T1), bà Đ trình bày: Anh Dư Anh T1 và chị Đỗ Thị T kết hôn năm 2017, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn do tính cách vợ chồng không hợp nhau, bất đồng trong cuộc sống, không có lòng tin với nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2024, chị T không còn chung sống cùng anh T1 và gia đình bà. Nay chị T xin ly hôn thì anh T1 đã biết, anh T1 có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của chị T; về con chung: Anh T1 và chị T có 01 con chung là Dư Đỗ Nhật A, sinh ngày 31/7/2017. Hiện nay cháu A ở với anh T1 và gia đình bà. Nay ly hôn, anh T1 có quan điểm xin được nuôi dưỡng cháu A. Anh T1 không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con mức cụ thể mà tùy vào khả năng của chị T; về tài sản chung và nợ chung thì vợ chồng anh T1 và chị T không có gì.

Tại Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Ứ, thành phố Hà Nội thể hiện: Chị Đỗ Thị T và anh Dư Anh T1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn số 010/2017 ngày 02/3/2017 tại UBND xã L, huyện Ứ, thành phố Hà Nội (nay là xã Ứ, thành phố Hà Nội). Hiện nay đời sống chung vợ chồng giữa chị T và anh T1 xẩy ra mâu thuẫn trầm trọng, kéo dài, cuộc sống chung vợ chồng không hòa thuận, mục đích hôn nhân không đạt được. Địa phương đã nhiều lần khuyên giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng chị T và anh T1 đã sống ly thân, chị T không còn sinh sống cùng anh T1 tại địa phương. Chị Đỗ Thị T và anh Dư Anh T1 có 01 con chung là cháu Dư Đỗ Nhật A, sinh ngày 31/7/2017. Hiện nay cháu Nhật A đang ở cùng anh T1 và ông bà nội của cháu ở địa phương. Quan điểm của địa phương: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Đỗ Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Dư Anh T1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội (Thẩm phán, Thư ký tòa án) đã thụ lý, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn chưa chấp hành các quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị T, xử cho chị Đỗ Thị T được ly hôn anh Dư Anh T1.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Dư Đỗ Nhật A, sinh ngày 31/7/2017. Chị T đề nghị giao cháu Nhật A cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, thông qua mẹ đẻ của anh T1 thể hiện anh T1 có quan điểm xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nhật A. Do vậy, giao cho anh T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nhật A. Về việc cấp dưỡng nuôi con do anh T1 không có yêu cầu nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị T đến khi các bên có yêu cầu.

- Tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Đỗ Thị T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Chị Đỗ Thị T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn anh Dư Anh T1 nên thuộc tranh chấp về Ly hôn theo quy định khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Dư Anh T1 có đăng ký thường trú tại: thôn B, xã Ứ, thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội theo quy định điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo thủ tục chung.

Về nội dung:

[1]. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Đỗ Thị T và anh Dư Anh T1 được xây dựng trên cơ sở tìm hiểm tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Ứ, thành phố Hà Nội (nay là xã Ứ, thành phố Hà Nội) vào ngày 02/3/2017 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có hạnh phúc và đã sống ly thân, mỗi người một nơi, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng anh Dư Anh T1 đều vắng mặt. Việc này chứng tỏ anh Dư Anh T1 không quan tâm đến cuộc sống chung và hạnh phúc vợ chồng. Thông qua mẹ đẻ của anh T1 là bà Phạm Thị Đ xác định anh T1 có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của chị T. Xét thấy, các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay sống ly thân mỗi người một nơi. Do vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hà Nội là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2]. Về con chung: Chị Đỗ Thị T và anh Dư Anh T1 có 01 con chung Dư Đỗ Nhật A, sinh ngày 31/7/2017. Con chung khỏe mạnh và hiện nay đang ở với anh T1.

Xét yêu cầu giao con chung Dư Đỗ Nhật A cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc của chị T, Hội đồng xét xử thấy: Từ khi chị T và anh T1 ly thân đến nay, cháu Nhật A sinh sống, học tập ổn định với anh T1, được chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển bình thường. Đồng thời, thông qua mẹ đẻ của anh T1 là bà Phạm Thị Đ xác định anh T1 có quan điểm xin nuôi cháu Nhật A và anh T1 không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con mà tùy vào khả năng của chị T. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của con chung nên cần thiết chấp nhận yêu cầu của chị T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hà Nội, theo đó giao cháu Dư Đỗ Nhật A cho anh T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do anh T1 không yêu cầu nên không xem xét và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị T đến khi các bên có yêu cầu.

[3]. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 010/2017 tại UBND xã L, huyện Ứ, thành phố Hà Nội (nay là xã Ứ, thành phố Hà Nội) cấp ngày 02/3/2017;

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Đỗ Thị T đối với anh Dư Anh T1.

    Xử chị Đỗ Thị T được ly hôn anh Dư Anh T1.

  2. Về con chung: Xác nhận chị Đỗ Thị T và anh Dư Anh T1 có 01 con chung Dư Đỗ Nhật A, sinh ngày 31/7/2017.

    Giao con chung Dư Đỗ Nhật A, sinh ngày 31/7/2017 cho anh Dư A Tài trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị Đỗ Thị T đến khi có quyết định thay đổi khác.

    Sau khi ly hôn chị Đỗ Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con và các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Đỗ Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011027 ngày 10/10/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - Hà Nội.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Đỗ Thị T và bị đơn anh Dư Anh T1 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND khu vực 12 - Hà Nội;
  • - Phòng THADS khu vực 12 - Hà Nội;
  • - UBND xã Ứng Thiên, TP Hà Nội;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Việt Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2025/HNGĐ-ST ngày 05/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 107/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger