Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 – CÀ MAU

Bản án số: 104/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27/11/2025

(V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

_________________________

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CÀ MAU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Kim Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lại Thiện Phong, Ông Lâm Thái Hiệp

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bé – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Yến Phi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 124/2025/TLST – HNGĐ, ngày 03 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 285/2025/QĐXXST – HNGĐ, ngày 23 tháng 10 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 196/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị H, sinh ngày 01/01/1989. Địa chỉ: Ấp M, xã V, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt có đơn xin vắng.
  2. Bị đơn: Anh Trần Quốc V, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp M, xã V, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/6/2025, các biên bản lấy lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trương Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2011, chị H và anh V có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (nay là xã V, tỉnh Cà Mau). Thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng anh chị thường xuyên cự cãi và chị H, anh V đã ly thân với nhau từ cuối năm 2022 cho đến nay. Kể từ khi ly thân đến nay, chị H và anh V không liên lạc với nhau để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh Trần Quốc V.

Về con chung: Chị H xác định trong quá trình chung sống, giữa chị và anh V có 02 người con chung là cháu Trần Quốc D, sinh ngày 23/3/2011 và cháu Trần Văn N, sinh ngày 31/8/2022. Hiện nay cháu D và cháu N đang sống với chị H. Nay chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi con nhưng không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H xác định giữa chị và anh V không có tài sản chung cũng như nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị H không yêu cầu gì khác.

Đối với bị đơn anh Trần Quốc V không đến Tòa án và không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án dù Tòa án đã thông báo, triệu tập hợp lệ. Do đó, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vắng mặt đối với anh V theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến phiên tòa xét xử hôm nay Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Trương Thị H được ly hôn với anh Trần Quốc V.
  2. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Trần Quốc D, sinh ngày 23/3/2011 và cháu Trần Văn N, sinh ngày 31/8/2022 cho chị Trương Thị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trần Quốc V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở và anh V không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Buộc chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Chị Trương Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Trần Quốc V và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” là đúng quy định.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Trần Quốc V có nơi đăng ký thường trú tại ấp M, xã V, tỉnh Cà Mau nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[3] Nguyên đơn chị Trương Thị H tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với chị H. Bị đơn anh Trần Quốc V vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh V.

[4] Xét đơn khởi kiện ly hôn của chị Trương Thị H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào năm 2011, chị H và anh V có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (nay là xã V, tỉnh Cà Mau) nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh V là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống, chị H xác định vợ chồng anh chị không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm nên vợ chồng anh chị thường xuyên cự cãi và chị H, anh V đã ly thân với nhau từ cuối năm 2022 cho đến nay. Kể từ khi ly thân đến nay, chị H và anh V không liên lạc với nhau để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ đó, cho thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị H và anh V đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị H, cho chị H được ly hôn với anh Trần Quốc V.

[5] Về con chung: Chị Trương Thị H xác định trong quá trình chung sống, giữa chị và anh V có có 02 người con chung là cháu Trần Quốc D, sinh ngày 23/3/2011 và cháu Trần Văn N, sinh ngày 31/8/2022. Hiện nay cháu D và cháu N đang sống với chị H nên chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi con nhưng không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại cháu D và cháu N đang sống cùng chị H, các cháu đã có cuộc sống, môi trường ăn, ở ổn định. Đồng thời, cháu D có nguyện vọng sống cùng mẹ là chị H khi cha mẹ cháu ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Trần Quốc D, sinh ngày 23/3/2011 và cháu Trần Văn N, sinh ngày 31/8/2022 cho chị Trương Thị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trần Quốc V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở và anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị H không yêu cầu.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H xác định giữa chị và anh V không có tài sản chung cũng như nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Buộc chị Trương Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị H. Cho chị Trương Thị H được ly hôn với anh Trần Quốc V.
  2. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Trần Quốc D, sinh ngày 23/3/2011 và cháu Trần Văn N, sinh ngày 31/8/2022 cho chị Trương Thị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trần Quốc V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở và anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị H không yêu cầu.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Buộc chị Trương Thị H phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch số tiền là 300.000 đồng. Chị H đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng tại biên lai thu số 0000913 ngày 03/10/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND Khu vực 9 – Cà Mau;
  • - THADS tỉnh Cà Mau;
  • - UBND xã nơi ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Kim Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2025/HNGĐ-ST ngày 27/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cà Mau về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 104/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cà Mau
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger