Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 9 – AN GIANG
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2025/HNGĐ – ST
Ngày: 12/12/2025
V/v "Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG

– Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đức Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sơn và bà Trần Thanh Vân.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – An Giang.

– Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 125/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số số 325/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 357/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21/11/2025, giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Bà Phan Thị Ngọc Đ, sinh năm 2003. Địa chỉ: tổ F, ấp V, xã V, tỉnh An Giang.

+ Bị đơn: Ông Trần Ngọc N, sinh năm 2001. Địa chỉ: ấp M, xã M, tỉnh An Giang.

(Bà Đ có đơn xin vắng, ông N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 31/7/2025, trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Phan Thị Ngọc Đ trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đ do mai mối sau đó tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, tỉnh An Giang ngày 13/10/2022. Số 170. Thời gian đầu vợ chồng sống vui vẻ, hạnh phúc được khoảng 05 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn trong hôn nhân và đã ly thân từ tháng 3 cho đến nay. Nguyên nhân là do hai bên bất đồng quan điểm với mẹ chồng, chồng thường xuyên cờ bạc bỏ bê gia đình, tình cảm giữa hai bên không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài. Bà Đ nhận thấy không còn tình cảm với chồng, đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với chồng là ông Trần Ngọc N.

-Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Ngọc Như Ý sinh ngày 25/5/2022. Con chung hiện nay đang sống với mẹ. Sau khi ly hôn bà Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông N cấp dưỡng.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án:

+ Bà Phan Thị Ngọc Đ có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

+ Ông Trần Ngọc N vắng mặt lần thứ hai.

+ Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa

Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng

Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, đề nghị:

Áp dụng các khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Ngọc Đ được ly hôn với ông Trần Ngọc N.

Về con chung: Giao Trần Ngọc Như Ý sinh ngày 25/5/2022 cho bà Phan Thị Ngọc Đ được nuôi dưỡng, ông N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Tranh chấp giữa bà Phan Thị Ngọc Đ với ông Trần Ngọc N là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn có nơi cư trú tại ấp M, xã M, tỉnh An Giang. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 9 – An Giang thụ lý giải quyết.

[1.2] Bà Phan Thị Ngọc Đ có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Trần Ngọc N vắng mặt lần thứ hai. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đ và ông N do mai mối sau đó tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, tỉnh An Giang số 170 ngày 13/10/2022. Thời gian đầu vợ chồng sống vui vẻ, hạnh phúc được khoảng 05 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn trong hôn nhân và đã ly thân từ tháng 3 cho đến nay. Nguyên nhân là do hai bên bất đồng quan điểm với mẹ chồng, chồng thường xuyên cờ bạc bỏ bê gia đình, tình cảm giữa hai bên không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài. Bà Đ nhận thấy không còn tình cảm với chồng, đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với chồng là ông Trần Ngọc N.

[2.2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng động viên bà Đ và tạo thêm thời gian để vợ chồng có cơ hội hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, bà Đ vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với ông N vì mâu thuẫn vợ chồng ngày càng lớn dẫn đến vợ chồng đã ly thân từ tháng 03 năm 2025 đến nay. Mặt khác, ông N mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án, tuy nhiên ông N vẫn không có ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. Từ đó, có thể nhận thấy tình cảm của bà Đ dành cho chồng không còn, tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy, nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà Đ được ly hôn với ông N.

[2.3] Về con chung: Bà Đ và ông N có 01 (một) con chung tên Trần Ngọc Như Ý sinh ngày 25/5/2022. Hiện cháu Ý đang sống với bà Đ. Sau khi ly hôn, bà Đ yêu cầu được nuôi cháu ý và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con. Lời khai của bà Đ phù hợp với bản sao trích lục khai sinh do Ủy ban nhân dân xã M cấp. Xét thấy, hiện nay cháu Ý đang sống với mẹ, do đó nhằm đảm bảo ổn định về tinh thần và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao cháu Trần Ngọc Như Ý sinh ngày 25/5/2022 cho bà Phan Thị Ngọc Đ tiếp tục nuôi dưỡng.

[2.4] Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, bà Đ không có yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bà Phan Thị Ngọc Đ và gia đình phải tạo điều kiện thuận lợi cho ông Trần Ngọc N được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyên yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền được nuôi con của người trực tiếp nuôi con. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiêp nuôi con theo quy định pháp luật.

[2.5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phan Thị Ngọc Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp các bên phát sinh tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

[3] Về án phí: Bà Phan Thị Ngọc Đ phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; Điều 238; Điều 273 và khoản 1 Điều 280; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Ngọc Đ. Bà Phan Thị Ngọc Đ được ly hôn với ông Trần Ngọc N.

- Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc Như Ý sinh ngày 25/5/2022 cho bà Phan Thị Ngọc Đ được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục.

Bà Phan Thị Ngọc Đ và gia đình phải tạo điều kiện thuận lợi cho ông Trần Ngọc N được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyên yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền được nuôi con của người trực tiếp nuôi con. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiêp nuôi con theo quy định pháp luật.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

- Về án phí: Bà Trần Thị Ngọc Đ1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002649 ngày 01/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang (Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 9). Bà Trần Thị Ngọc Đ1 đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - THADS.AG;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Đức Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2025/HNGĐ – ST ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 102/2025/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà N yêu cầu ly hôn ông Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger