Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - PHÚ THỌ

Bản án số: 10/2025/HS-ST

Ngày 27 tháng 11 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Trường;

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Đình Sở; Ông Phạm Mạnh Quỳ;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Nguyễn Giang Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2025/TLHS ngày 27 tháng 10 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXX-ST ngày 05/09/2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ tên: TRẦN QUANG M, tên gọi khác: Không

    Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1971 tại: xã T, tỉnh Phú Thọ;

    Nơi thường trú: khu C, xã T, tỉnh Phú Thọ;

    Dân tộc: Mường; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;

    Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam

    Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không.

    Con ông: Trần Văn G, sinh năm 1935 (Đã chết);

    Con bà: Nguyễn Thị G1, sinh năm 1935 (Đã chết);

    Vợ: Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1972;

    Con: Bị cáo có 02 con sinh năm 2000 và 2002. Hiện vợ, con ở cùng bị cáo tại khu C, xã T, tỉnh Phú Thọ.

    Tiền án, Tiền sự: Không.

    Nhân thân: Bị cáo đã 02 lần bị xét xử về tội “Đánh bạc”. Cụ thể:

    Bản án số 14/2005/HSST ngày 27/7/2005 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ tuyên xử Trần Quang M phạm tội “Đánh bạc”. Phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Bị cáo đã hành xong toàn bộ bản án, đương nhiên được xóa án tích.

    Bản án số 39/2013/HSST ngày 19/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ tuyên xử Trần Quang M phạm tội “Đánh bạc”. Phạt 10.000.000 đồng. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án đến nay đương nhiên được xóa án tích.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/8/2025 đến đến ngày 04/8/2025. Hiện bị cáo đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, tỉnh Phú Thọ.

  2. Họ tên: ĐỖ NGUYÊN H; tên gọi khác: Không;

    Sinh ngày 21 tháng 02 năm 1980 tại: xã T, tỉnh Phú Thọ

    Nơi thường trú: khu P, xã T, tỉnh Phú Thọ;

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;

    Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam;

    Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không.

    Con ông: Đỗ Nguyên H1, sinh năm 1954 (Đã chết);

    Con bà: Nguyễn Thị B, sinh năm 1955;

    Vợ: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1985;

    Con: Bị cáo có 02 con sinh năm 2007 và 2012. Hiện mẹ, vợ, con của bị cáo đều ở cùng bị cáo tại khu P, xã T, tỉnh Phú Thọ.

    Tiền án, Tiền sự: Không.

    Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện bị cáo đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, tỉnh Phú Thọ.

  3. Họ tên: ĐỖ VĂN T; Tên gọi khác: Không;

    Sinh ngày 30 tháng 6 năm 1990 tại: xã T, tỉnh Phú Thọ;

    Nơi thường trú: khu P, xã T, tỉnh Phú Thọ;

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;

    Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam

    Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không.

    Con ông: Đỗ Văn C, sinh năm 1961;

    Con bà: Tạ Thị L2, sinh năm 1964;

    Vợ: Nguyễn Thị Bích T1, sinh năm 1990;

    Con: Bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2023. Hiện bố, mẹ, vợ, con của bị cáo đều ở cùng bị cáo tại khu P, xã T, tỉnh Phú Thọ.

    Tiền án, Tiền sự: Không.

    Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện bị cáo đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, tỉnh Phú Thọ.

  4. Họ tên: ĐINH VĂN H2; Tên gọi khác: Không;

    Sinh ngày 04 tháng 02 năm 1982 tại: xã T, tỉnh Phú Thọ

    Nơi thường trú: khu C, xã T, tỉnh Phú Thọ;

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;

    Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam

    Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không.

    Con ông: Đinh Văn T2, sinh năm 1942 (Đã chết);

    Con bà: Nguyễn Thị T3, sinh năm 1947;

    Vợ: Bùi Thị Ngọc O, sinh năm 1989 (Đã ly hôn). Hiện ở G, tp Hà Nội.

    Con: Bị cáo có 02 con sinh năm 2014 và 2017

    Tiền án, Tiền sự: Không.

    Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện bị cáo đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, tỉnh Phú Thọ.

  5. Họ tên: DƯƠNG ĐỨC T6; Tên gọi khác: Không;

    Sinh ngày 24 tháng 12 năm 1982 tại: xã T, tỉnh Phú Thọ;

    Nơi thường trú: khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ;

    Dân tộc: Mường; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

    Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam

    Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không.

    Con ông: Dương Văn N, sinh năm 1938;

    Con bà: Phùng Thị M1, sinh năm 1949;

    Vợ: Nguyễn Thị M2, sinh năm 1987;

    Con: Bị cáo có 02 con sinh năm 2009 và 2011

    Hiện bố, mẹ, vợ, con đều ở cùng bị cáo tại khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ.

    Tiền án, Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/8/2025 đến ngày 04/8/2025. Hiện bị cáo đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, tỉnh Phú Thọ.

  6. Họ tên: ĐỖ VĂN Q; Tên gọi khác: Không;

    Sinh ngày 03 tháng 12 năm 1983 tại: xã T, tỉnh Phú Thọ;

    Nơi thường trú: khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ;

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;

    Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam;

    Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không.

    Con ông: Đỗ Văn C1, sinh năm 1952 (Đã chết);

    Con bà: Nguyễn Thị V, sinh năm 1953;

    Vợ: Nguyễn Thị M3, sinh năm 1988;

    Con: Bị cáo có 02 con sinh năm 2009 và 2012

    Hiện mẹ, vợ, con đều ở cùng bị cáo tại khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ.

    Tiền án, Tiền sự: Không.

    Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện bị cáo đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, tỉnh Phú Thọ.

  7. Họ tên: NGUYỄN TIẾN T4; Tên gọi khác: Không;

    Sinh ngày 19 tháng 9 năm 1985 tại: xã T, tỉnh Phú Thọ;

    Nơi thường trú: khu P, xã T, tỉnh Phú Thọ;

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;

    Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam;

    Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Đảng viên sinh hoạt tại Chi bộ khu P, xã T, tỉnh Phú Thọ.

    Con ông: Nguyễn Ngọc X, sinh năm 1957;

    Con bà: Đỗ Thị C2, sinh năm 1963;

    Vợ: Đinh Thị H3, sinh năm 1989;

    Con: Bị cáo có 02 con sinh năm 2011 và 2014.

    Tiền án, Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/8/2025 đến ngày 04/8/2025. Hiện bị cáo đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, tỉnh Phú Thọ.

  8. Họ tên: ĐINH TIẾN LÂM; Tên gọi khác: Không;

    Sinh ngày 03 tháng 01 năm 1989 tại: xã T, tỉnh Phú Thọ;

    Nơi thường trú: khu C, xã T, tỉnh Phú Thọ;

    Dân tộc: Mường; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;

    Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam;

    Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không.

    Con ông: Đinh Văn T5, sinh năm 1964;

    Con bà: Nguyễn Thị H4, sinh năm 1965;

    Vợ: Hoàng Thị Thu H5, sinh năm 1991;

    Con: Bị cáo có 02 con sinh năm 2013 và 2022.

    Tiền án, Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/8/2025 đến ngày 04/8/2025. Hiện bị cáo đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phùng Mạnh P, sinh năm 1972, Địa chỉ: khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 01/8/2025, các bị cáo gồm: Đỗ Văn Q, Đỗ Văn T, Trần Quang M, Nguyễn Tiến T4, Đinh Tiến L3, Đinh Văn H2, Dương Đức T6, Đỗ Nguyên H ngồi chơi uống nước chè tại khu vực lò than không còn hoạt động của nhà ông Phùng Mạnh P – Sinh năm 1972 tại khu Đ, xã T. Quá trình ngồi uống nước các đối tượng trên rủ nhau đi lên đồi K gần đó để đánh bạc ăn tiền. T thấy có 01 chiếc chiếu và 01 bộ bài đã để sẵn từ trước nên cầm theo. Tất cả cùng đi bộ lên khu vực đồi K, khi đến nơi T trải chiếu và cầm bộ bài còn T6 dùng đèn pin đội đầu mang theo từ trước chiếu sáng để tất cả cùng tham gia đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc dưới hình thức chơi Liêng ăn tiền. T là người chia bài đầu tiên. Các đối tượng đánh bài đến 01 giờ 00 phút ngày 02/8/2025 thì bị Công an xã T bắt quả tang.

Về hình thức đánh bạc: Các đối tượng đánh bạc dưới hình thức chơi Liêng ăn tiền. Cụ thể: Đầu mỗi ván chơi, người cầm cái sẽ dùng bộ bài 52 quân chia cho mỗi người chơi 03 quân bài. Sau đó, mỗi người góp 50.000 đồng vào giữa chiếu để cá cược (gọi là vào gà). Sau khi những người chơi xem bài xong thì tùy vào bài cao hay thấp để quyết định bỏ bài hay tố. Khi bỏ bài sẽ bị mất số tiền đã vào gà. Số tiền tố thấp nhất là 50.000 đồng và không vượt quá 150.000 đồng. Sau đó tất cả cùng mở bài để xem ai cao nhất sẽ thắng và ăn toàn bộ số tiền đã vào gà và tiền tố thêm. Người thắng ở ván chơi trước sẽ được cầm cái ở ván chơi sau. Thứ tự bài cao, thấp lần lượt từ Sáp (ba quân bài giống nhau); L4 (Ba quân bài liên tiếp nhau); Đ (ba quân bài là đầu người)....

Về vị trí ngồi đánh bạc, các đối tượng ngồi thành vòng tròn lần lượt theo thứ tự M, L3, Q, T6, T, T4, H2, H. Các đối tượng không thay đổi vị trí và đánh bạc liên tục cho đến khi bị bắt quả tang.

Quá trình bắt quả tang một số đối tượng cùng tham gia đánh bạc nhưng đã bỏ chạy. Đến ngày 04 tháng 8 năm 2025, Đỗ Nguyên H; Đỗ Văn Q; Đỗ Văn T và Đinh Văn H2 đã đến Công an xã T, tỉnh Phú Thọ để đầu thú về hành vi đánh bạc của mình

Về số tiền các đối tượng tham gia đánh bạc như sau: M sử dụng số tiền 2.000.000 đồng; H sử dụng số tiền 700.000 đồng; H2 sử dụng số tiền 600.000 đồng; T4 sử dụng số tiền 1.550.000 đồng; T sử dụng số tiền 800.000 đồng; T6 sử dụng số tiền 1.850.000 đồng; Q sử dụng số tiền 950.000 đồng; L3 sử dụng số tiền 2.000.000 đồng để tham gia đánh bạc. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 10.450.000 đồng đã bị thu giữ toàn bộ trên chiếu bạc.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

  • + Các bị cáo Đỗ Văn T, Nguyễn Tiến T4, Đinh Tiến L3, Đỗ Nguyên H, Đỗ Văn Q, Dương Đức T6, Đinh Văn H2 và bị cáo Trần Quang M đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
  • + Các bị cáo Đỗ Nguyên H; Đỗ Văn Q; Đỗ Văn T và Đinh Văn H2 đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51
  • + Bị cáo Trần Quang M có mẹ đẻ được tặng thưởng Bằng khen kháng chiến, có bố đẻ được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Bị cáo Trần Quang M không có tiền án, tiền sự. Lịch sử bản thân đã 02 lần bị xét xử về tội “Đánh bạc”. Cụ thể: Bản án số 14/2005/HSST ngày 27/7/2005 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ tuyên xử Trần Quang M phạm tội “Đánh bạc”. Phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Bị cáo đã hành xong toàn bộ bản án. Bản án số 39/2013/HSST ngày 19/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ tuyên xử Trần Quang M phạm tội “Đánh bạc”. Phạt 10.000.000 đồng. Bị cáo đã hành xong toàn bộ bản án đến nay đương nhiên được xóa án tích.
  • + Bị cáo Đỗ Văn Q có bố đẻ là thương binh hạng 2/4.
  • + Bị cáo Đinh Văn H2 có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba và Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhì. Mẹ đẻ được tặng danh hiệu Gia đình cách mạng gương mẫu
  • + Bị cáo Dương Đức T6 là người thờ cúng liệt sỹ được UBND tỉnh P cấp giấy chứng nhận.
  • * Vật chứng vụ án: Số tiền 10.450.000đ, 01 chiếu nhựa có hoa văn màu xanh, trắng, đỏ; 52 quân bài tú lơ khơ; 01 đèn pin đội đầu.
  • * Về điều kiện kinh tế, Tại phiên tòa các bị cáo đều trình bày và xác định thu nhập, cụ thể:
  • + Bị cáo Trần Quang M có 01 nhà xây cấp 4 lợp bờ lô xi măng trên đất đứng tên hai vợ chồng tại khu C, xã T. Bị cáo là lao động tự do thu nhập trung bình 200.000 đồng/ngày.
  • + Bị cáo Đỗ Nguyên H có 01 nhà xây cấp 4 lợp ngói trên đất đứng tên hai vợ chồng tại khu P, xã T. Bị cáo là lao động tự do và làm nghề lái xe thuê, mức thu nhập trung bình 280.000 đồng/ngày.
  • + Bị cáo Đỗ Văn T có 01 nhà xây cấp 4 lợp ngói trên đất đứng tên hai vợ chồng tại khu P, xã T. Bị cáo là lao động tự do mức thu nhập trung bình 250.000 đồng/ngày.
  • + Bị cáo Đỗ Văn Q có 01 nhà xây cấp 4 lợp ngói trên đất đứng tên hai vợ chồng tại khu Đ, xã T. Bị cáo là lao động tự do mức thu nhập trung bình 250.000 đồng/ngày.
  • + Bị cáo Đinh Văn H2 là lao động tự do mức thu nhập trung bình 250.000 đồng/ngày.
  • + Bị cáo Dương Đức T6 có 01 nhà xây cấp 4 lợp ngói trên đất đứng tên hai vợ chồng tại khu Đ, xã T. Bị cáo là lao động tự do mức thu nhập trung bình 250.000 đồng/ngày.
  • + Bị cáo Nguyễn Tiến T4 là lao động tự do mức thu nhập trung bình 250.000 đồng/ngày.
  • + Bị cáo Đinh Tiến L3 có 01 nhà xây cấp 4 lợp ngói trên đất đứng tên hai vợ chồng tại khu Đ, xã T. Bị cáo là lao động tự do mức thu nhập trung bình 250.000 đồng/ngày.

Đối với ông Phùng Mạnh P – Sinh năm 1972 là chủ lò than tại khu Đ, xã T nơi các bị cáo ngồi uống nước chè và lấy chiếu, bộ bài để đi đánh bạc. Quá trình điều tra đã làm rõ, lò than này thuộc quyền sở hữu của ông P nhưng đã ngừng hoạt động từ năm 2021. Ông P không biết và không liên quan đến hành vi đánh bạc của các bị cáo nên không đề cập xử lý.

Tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và tỏ thái độ rất ân hận và ăn năn về hành vi vi phạm pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ khoản 1 điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 Bộ luật Hình sự; điểm d khoản 1 điều 125 Bộ luật Tố tụng Hình sự đối với bị cáo Trần Quang M;
  • Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51, điều 35 Bộ luật Hình sự; điểm d khoản 1 điều 125 Bộ luật Tố tụng Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Tiến T4, Đinh Tiến L3;
  • Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1,2 điều 51, điều 35 Bộ luật Hình sự; điểm d khoản 1 điều 125 Bộ luật Tố tụng Hình sự đối với các bị cáo Đỗ Văn Q, Đinh Văn H2, Dương Đức T6, Đỗ Nguyên H, Đỗ Văn T;

Tuyên bố các bị cáo: Trần Quang M, Đỗ Văn Q, Đỗ Văn T, Nguyễn Tiến T4, Đinh Tiến L3, Đinh Văn H2, Dương Đức T6, Đỗ Nguyên H phạm tội Đánh bạc.

  • Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Quang M 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng.
  • - Giao bị cáo Trần Quang M cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • - Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.
  • - Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trần Quang M cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo;
  • Đề nghị xử phạt tiền là hình phạt chính đối với:
  • + Bị cáo Dương Đức T6 40.000.000 đồng đến 50.000.000đ;
  • + Bị cáo Đỗ Văn T 25.000.000 đồng đến 30.000.000đ;
  • + Bị cáo Nguyễn Tiến T4 25.000.000 đồng đến 30.000.000đ;
  • + Bị cáo Đinh Tiến L3 25.000.000 đồng đến 30.000.000đ;
  • + Bị cáo Đỗ Văn Q 20.000.000 đồng đến 25.000.000đ;
  • + Bị cáo Đinh Văn H2 20.000.000 đồng đến 25.000.000đ;
  • + Bị cáo Đỗ Nguyên H 20.000.000 đồng đến 25.000.000đ;
  • - Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

  • + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 10.450.000₫ (Mười triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng). Tịch thu để tiêu huỷ 01 đèn pin, 01 chiếu cói; 52 quân bài tu lơ khơ;

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận;

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đều rất ân hận về hành vi vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
  2. Về căn cứ buộc tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian địa điểm nơi xảy ra vụ án, phù hợp với các vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo đã phạm tội đánh bạc, cụ thể: Vào hồi 1 giờ ngày 02/8/2025 tại đồi Khe Chiểu, khu Đ xã T, tỉnh Phú Thọ các bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc (Chơi liêng) được thua bằng tiền, các bị cáo đang chơi bạc thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang thu giữ các vật chứng: Số tiền 10.450.000đ, 01 chiếu nhựa có hoa văn màu xanh, trắng, đỏ; 52 quân bài tú lơ khơ; 01 đèn pin đội đầu, trong đó bị cáo M sử dụng số tiền 2.000.000 đồng; H sử dụng số tiền 700.000 đồng; H2 sử dụng số tiền 600.000 đồng; T4 sử dụng số tiền 1.550.000 đồng; T sử dụng số tiền 800.000 đồng; T6 sử dụng số tiền 1.850.000 đồng; Q sử dụng số tiền 950.000 đồng; L3 sử dụng số tiền 2.000.000 đồng để tham gia đánh bạc; Do vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - tỉnh Phú Thọ đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong nhân dân; Vì vậy hành vi đó cần phải được xử lý theo quy định của pháp luật hình sự để giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
  4. Về nhân thân của các bị cáo:
    • - Các bị cáo Đỗ Văn Q, Đỗ Văn T, Nguyễn Tiến T4, Đinh Tiến L3, Đinh Văn H2, Dương Đức T6, Đỗ Huyên N1 trước khi phạm tội đều là người có nhân thân tốt, luôn chấp hành tốt chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của nhà nước và các quy định của chính quyền địa phương và qua xem xét lý lịch thì thấy các bị cáo có nơi cư trú cụ thể rõ ràng;
    • - Bị cáo Trần Quang M trước khi phạm tội mặc dù đã có nhân thân chưa tốt, cụ thể bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội đánh bạc năm 2005 với số tiền 200.000đ, hình phạt áp dụng: Phạt tù 09 tháng nhưng cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng; năm 2013 thực hiện hành vi phạm tội đánh bạc với số tiền 1.000.000đ, hình phạt áp dụng: Phạt tiền 10.000.000đ; bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ quyết định các bản án đã tuyên, bị cáo đã được đương nhiên xóa án tích; từ đó đến trước khi phạm tội lần này bị cáo M luôn chấp hành tốt chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Nhà nước và các quy định của chính quyền địa phương nơi cư trú và qua xem xét lý lịch thì thấy các bị cáo có nơi cư trú cụ thể rõ ràng;
  5. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
    • Các bị cáo Đỗ Văn Q, Đỗ Văn T, Nguyễn Tiến T4, Đinh Tiến L3, Đinh Văn H2, Dương Đức T6, Đỗ Nguyên H đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
    • Các bị cáo Trần Quang M, Đỗ Văn Q, Đinh Văn Hùng Dương Đức T6, Đỗ Nguyên H, Đỗ Văn T còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cụ thể: Bị cáo Trần Quang M, Đinh Văn H2 đều có bố mẹ đẻ được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến; bị cáo Đỗ Văn Q có bố đẻ là thương binh hạng 2/4; bị cáo Dương Đức T6 là người thờ cúng liệt sỹ; các bị cáo Đỗ Văn Q, Đinh Văn H2, Đỗ Nguyên H, Đỗ Văn T đầu thú
    • Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình như nêu trên là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.

    Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, trên cơ sở thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự, tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, cũng như thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật hình sự đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy:

    Bị cáo Trần Quang M được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự theo quy định tại Nghị quyết 04/2025/NQ - HĐTP ngày 30 tháng 9 năm 2025; bị cáo M có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, do đó chưa cần cách ly bị cáo khỏi xã hội, đủ điều kiện áp dụng điều 65 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Đỗ Văn Q, Đỗ Văn T, Nguyễn Tiến T4, Đinh Tiến L3, Đinh Văn H2, Dương Đức T6, Đỗ Nguyên H được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điều 51 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có tài sản và thu nhập, đủ điều kiện áp dụng điều 35 Bộ luật Hình sự, như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, cũng đủ để giáo dục các bị cáo trở thành người tốt; tuy nhiên các bị cáo có nhân thân khác nhau, sử dụng số tiền thực hiện hành vi đánh bạc khác nhau như đã phân tích nêu trên và vai trò của từng bị cáo khác nhau đó là, bị cáo T6 chuẩn bị đèn pin soi cho các bị cáo cùng đánh bạc, bị cáo T chuẩn bị chiếu và 52 quân bài tu lơ khơ để các bị cáo cùng chơi bạc nên các bị cáo phải chịu hình phạt và mức hình phạt là khác nhau

  6. Về hình phạt bổ sung: Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp được chấp nhận;
  7. Về vật chứng: Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý các vật chứng: (Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 10.450.000đ các bị cáo sử dụng đánh bạc; tịch thu tiêu hủy 01 chiếu nhựa, 52 quân bài tu lơ khơ và 01 đèn pin các bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  8. Trong vụ án này ông Phùng Mạnh P liên quan đến việc các bị cáo lấy chiếu, lấy bộ bài của ông đi để đánh bạc nhưng ông P không biết nên không đề cập xử lý và ông không yêu cầu gì đối với các tài sản trên, nay các tài sản đó cũ hỏng không còn giá trị nên cần tích thu để tiêu hủy;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 Bộ luật Hình sự; điểm d khoản 1 điều 125 Bộ luật Tố tụng Hình sự đối với bị cáo Trần Quang M;

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51, điều 35 Bộ luật Hình sự; điểm d khoản 1 điều 125 Bộ luật Tố tụng Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Tiến T4, Đinh Tiến L3;

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 điều 51, điều 35 Bộ luật Hình sự; điểm d khoản 1 điều 125 Bộ luật Tố tụng Hình sự đối với các bị cáo Đỗ Văn Q, Đinh Văn H2, Dương Đức T6, Đỗ Nguyên H và Đỗ Văn T;

Tuyên bố các bị cáo: Trần Quang M, Đỗ Văn Q, Đỗ Văn T, Nguyễn Tiến T4, Đinh Tiến L3, Đinh Văn H2, Dương Đức T6 và Đỗ Nguyên H phạm tội Đánh bạc.

  1. Xử phạt bị cáo Trần Quang M 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;
    • - Giao bị cáo Trần Quang M cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
    • - Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.
    • - Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trần Quang M cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo;
    • - Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Trần Quang M.
  2. Xử phạt tiền là hình phạt chính đối với:
    • + Bị cáo Dương Đức T6 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng);
    • + Bị cáo Đỗ Văn T 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng);
    • + Bị cáo Nguyễn Tiến T4 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng);
    • + Bị cáo Đinh Tiến L3 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng);
    • + Bị cáo Đỗ Văn Q 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng);
    • + Bị cáo Đinh Văn H2 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng);
    • + Bị cáo Đỗ Nguyên H 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng);

    Thời hạn các bị cáo phải nộp tiền một lần kể từ khi án có hiệu lực pháp luật.

    • - Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Đỗ Văn Q, Đỗ Văn T, Nguyễn Tiến T4, Đinh Tiến L3, Đinh Văn H2, Dương Đức T6, Đỗ Nguyên H.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
    • + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 10.450.000đ (Mười triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) đã được chuyển vào tài khoản tạm gửi của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ mở tại Kho bạc nhà nước tỉnh P, số tài khoản 3949 0105 4134 00000 ngày 26/11/2025;
    • + Tịch thu để tiêu huỷ 01 đèn pin đội đầu; 01 chiếu nhựa có hoa văn màu xanh, trắng, đỏ; 52 quân bài tu lơ khơ;

    Các vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng đến phòng thi hành án dân sự khu vực 7 - Phú Thọ ngày 27 tháng 11 năm 2025;

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a, khoản 1 điều 23 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc các bị cáo Trần Quang M, Đỗ Văn Q, Đỗ Văn T, Nguyễn Tiến T4, Đinh Tiến L3, Đinh Văn H2, Dương Đức T6 và Đỗ Nguyên H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm;

  5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ (Phòng Giám đốc kiểm tra - TTr & THA)
  • - VKSND khu vực 7;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - PC 06 Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - PC 10 Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an xã Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Lưu AV, Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Xuân Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - PHÚ THỌ về hình sự - tội đánh bạc

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger