|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST Ngày 15 tháng 12 năm 2025 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - NGHỆ AN
|
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: |
|
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Vi Thị Khuyên. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | 1. Bà Vi Thị Khiểu; |
| 2. Bà Xã Thị Cẩm Tú. | |
|
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thùy Nụ - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân khu vực 12 - Nghệ An. |
|
|
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Khang - Kiểm sát viên. |
|
Ngày 15 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 12 – Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2025 về “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXX-ST ngày 27 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lô Thị M; Sinh năm 1982.
- Bị đơn: Anh Vi Văn M1; sinh năm: 1973.
Nơi cư trú: Bản B, xã H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Bản B, xã H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Lô Thị M vắng mặt, tuy nhiên theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Lô Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vi Văn M1 tiến hành đăng ký kết hôn vào ngày 22/06/2004 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An (Nay là xã H, tỉnh Nghệ An), hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, yêu thương nhau, cùng nhau vun vén xây dựng gia đình. Về sau, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách, quan điểm, lối sống có sự khác biệt. Hai bên đã cố gắng hòa giải, hàn gắn nhưng không thành. Chị và anh Vi Văn M1 đã sống ly thân từ năm 2011. Nay, xét thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được chị Lô Thị M đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Vi Văn M1.
Về con chung: Chị Lô Thị M và anh Vi Văn M1 có 02 con chung là cháu Vi Văn H, sinh ngày 20/02/1999 và cháu Vi Thị G, sinh ngày 11/08/2004. Hiện nay các cháu đã trưởng thành và đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Chị Lô Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa bị đơn anh Vi Văn M1 vắng mặt, tuy nhiên tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, anh Vi Văn M1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Vi Văn M1 thừa nhận về thời gian, địa điểm chung sống đúng như chị Lô Thị M trình bày. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, yêu thương nhau, cùng nhau vun vén xây dựng gia đình. Về sau, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách, quan điểm, lối sống không hợp. Hiện nay tình cảm giữa hai bên không còn, đời sống chung không hòa hợp, anh đồng ý đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Lô Thị M.
Về con chung: Anh và chị Lô Thị M có 02 con chung là cháu Vi Văn H, sinh ngày 20/02/1999 và cháu Vi Thị G, sinh ngày 11/08/2004. Hiện nay các cháu đã trưởng thành và đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Anh Vi Văn M1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, xác định quan hệ tranh chấp; Trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ, tống đạt đảm bảo quyền của đương sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự từ Điều 239 đến Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của Thư ký phiên tòa được thực hiện đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Về hôn nhân: Cho chị Lô Thị M và anh Vi Văn M1 được ly hôn; về con chung: Chị Lô Thị M và anh Vi Văn M1 có 02 con chung là cháu Vi Văn H, sinh ngày 20/02/1999 và cháu Vi Thị G, sinh ngày 11/08/2004. Hiện nay các cháu đã trưởng thành, đủ 18 tuổi, đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn chị Lô Thị M và anh Vi Văn M1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; về án phí: Nguyên đơn chị Lô Thị M phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Lô Thị M yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Vi Văn M1 có địa chỉ cư trú tại Bản B, xã H, tỉnh Nghệ An. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.
[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành tốt các quyết định của Tòa án. Nguyên đơn chị Lô Thị M và bị đơn anh Vi Văn M1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên việc giải quyết vụ án, xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại Điều 207 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lô Thị M và anh Vi Văn M1 tự nguyện kết hôn sau một thời gian tìm hiểu, kết hôn đúng điều kiện, nơi đăng ký kết hôn là tại UBND xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An (nay là xã H, tỉnh Nghệ An) nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, yêu thương nhau cùng nhau vun vén, xây dựng gia đình, khoảng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách hai bên có sự khác biệt, vợ chồng không có tiếng nói chung, không thể hòa hợp trong cuộc sống. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2011. Hiện chị Lô Thị M không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Vi Văn M1. Anh Vi Văn M1 cũng đồng ý đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị Lô Thị M. Xét thấy, hôn nhân của chị Lô Thị M và anh Vi Văn M1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho chị Lô Thị M và anh Vi Văn M1 được ly hôn nhau.
[3.2] Về con chung: Chị Lô Thị M và anh Vi Văn M1 có 02 con chung là cháu Vi Văn H, sinh ngày 20/02/1999 và cháu Vi Thị G, sinh ngày 11/08/2004. Hiện nay các cháu đã trưởng thành, đủ 18 tuổi, đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3] Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Nguyên đơn chị Lô Thị M và anh Vi Văn M1 không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
[5] Về án phí: Nguyên đơn chị Lô Thị M phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lô Thị M.
- Về hôn nhân: Cho chị Lô Thị M được ly hôn với anh Vi Văn M1.
- Về án phí: Chị Lô Thị M phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai thu số 0000724 ngày 02/10/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - Nghệ An (Chị Lô Thị M đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm).
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Lô Thị M và bị đơn anh Vi Văn M1 vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vi Thị Khuyên |
Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – NGHỆ AN về ly hôn
- Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Lô Thị M và anh Vi Văn M1 tự nguyện kết hôn sau một thời gian tìm hiểu, kết hôn đúng điều kiện, nơi đăng ký kết hôn là tại UBND xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An (nay là xã H, tỉnh Nghệ An) nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, yêu thương nhau cùng nhau vun vén, xây dựng gia đình, khoảng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách hai bên có sự khác biệt, vợ chồng không có tiếng nói chung, không thể hòa hợp trong cuộc sống. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2011. Hiện chị Lô Thị M không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Vi Văn M1. Anh Vi Văn M1 cũng đồng ý đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị Lô Thị M. Xét thấy, hôn nhân của chị Lô Thị M và anh Vi Văn M1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho chị Lô Thị M và anh Vi Văn M1 được ly hôn nhau
