|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH Bản án số: 87/2025/HSST Ngày: 17/12/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Đình Công.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Lưu và bà Đào Thị Thu
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Thứ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Bắc Ninh tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 -Bắc Ninh, Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2025/TLST - HS ngày 26/11/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2025/QĐXXST-HS ngày 05/12/2025, đối với:
1. Trần Quang T, sinh năm 2000
HKTT: Khu phố Đ, phường Q, tỉnh Bắc Ninh; Nơi ở: Khu phố Đ, phường Q, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Quang K và bà Trần Thị T1; vợ, con: chưa có;
- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2025 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
2. Nguyễn Đoàn P, sinh năm 2002.
HKTT: Thôn B, xã V, tỉnh Hải Phòng; Nơi ở: Thôn N, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân B và bà Đoàn Thị T2; có vợ là Lương Thị V và 02 con, cùng sinh năm 2021.
- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không
Bị tạm giữ từ ngày 13/8/2025 đến ngày 22/8/2025 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
3. Phạm Đức H, sinh năm 1988;
HKTT: Tổ dân phố P, phường H, thành phố Hải Phòng; Nơi ở: Thôn C, xã L, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H1 và bà Đoàn Thị T3; có vợ là Lê Thị N và 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020.
- Tiền án,tiền sự: Không.
- Nhân thân: Tại bản án số 64/2012/HSST ngày 23/5/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 29 tháng tính từ ngày tuyên án về tội “Đánh bạc”. Ngày 23/10/2014 chấp hành xong toàn bộ bản án.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2025 đến ngày 22/8/2025 thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đến nay.
4. Đào Anh H2, sinh năm 1995
HKTT và nơi ở: Thôn C, xã L, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Đình T4 và bà Trần Thị K1; vợ, con: chưa có;
- Tiền án,tiền sự: Không
- Nhân thân: Tại bản án số 35/2012/HSST ngày 23/2/2012 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 35 tháng 18 ngày tính từ ngày tuyên án về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Ngày 09/1/2015, chấp hành xong toàn bộ bản án.
Bị tạm giữ từ ngày 13/8/2025 đến ngày 22/8/2025 được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1967
HKTT: phố C, xã Y, tỉnh Bắc Ninh - Ông Phạm Tiến M, sinh năm 1985,
- Ông Phạm Tiến B1, sinh năm 1972
- Ông Phạm Tiến T6, sinh năm 1965
Cùng HKTT tại thôn L, xã L, tỉnh Bắc Ninh
Các bị cáo đều có mặt. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Đức H, Đào Anh H2, Nguyễn Đoàn P, Trần Quang T, Trần Thế P1, sinh năm 1988; Trần Thế H3, sinh năm 1987, cùng HKTT tại thôn C, xã L, tỉnh Bắc Ninh có quan hệ quen biết xã hội.
Phạm Tiến B1, Phạm Tiến M, Phạm Tiến T6 có quan hệ họ hàng. Giữa H, Pháp, T, H2 và anh B1, ông T6, anh M không có mâu thuẫn, thù tức gì.
Chị Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1988, HKTT tại thôn Đ, xã T, tỉnh Bắc Ninh kinh doanh quán Karaoke “Kim Ngân” có địa chỉ ở chợ Đ, xã T và nhờ bà Nguyễn Thị T5 (là mẹ đẻ của chị D) làm quản lý. Năm 2020, anh B1 đến hát và nợ tiền của quán. Khoảng 18 giờ ngày 30/5/2025, bà T5 đi xe mô tô đến nhà ông B1 tại thôn L để đòi nợ nhưng anh B1 không đồng ý nên xảy ra mâu thuẫn. Bực tức vì bà T5 nhiều lần đến đòi tiền hát, ảnh hưởng đến uy tín nên anh B1 chửi bới, đuổi bà T5 ra khỏi nhà nhưng bà T5 không chịu đi nên anh B1 cầm chiếc điếu cày bằng gỗ KT (48,5x16)cm khua khoắng, mục đích đuổi bà T5 ra khỏi nhà thì đập trúng 01 phát vào bắp tay trái bà T5. Thấy vậy, chị Nguyễn Thị H4 (là vợ anh B1) can ngăn thì bà T5 nói sẽ gọi người đến để nói chuyện rồi ra về.
Sau đó, bà T5 gọi điện thoại cho chị Nguyễn Thị Kim N1, sinh năm 1999, HKTT tại thôn Đ, xã T (là con gái) nói: “lúc nãy mẹ đi đòi tiền nhà B1 không được lại bị dọa đánh”. Do N1 bật loa ngoài nên H (là người yêu của N1) đang lái xe ô tô nhãn hiệu Hyndai Elantra, màu đen, BKS: 99A-770.15 nghe được nên bảo bà T5 “bà chờ con về con chở lên nói chuyện xem thế nào”. Khoảng 20 giờ cùng ngày, H chở N1, bà T5 và 02 con của H đến trước cửa nhà anh B1 với mục đích nói chuyện. Khi đến nơi, H, N1, bà T5 xuống xe, đứng tại vỉa hè phía trước cửa nhà anh B1, giữa H và anh B1 có cãi nhau về việc nợ tiền. Thấy vậy, anh Phạm Tiến M, anh Phạm Tiến B2, bà Phạm Thị T7 (là mẹ và anh em của anh B1) đến nói chuyện. Tại đây, anh M, anh B1 tiếp tục lời qua tiếng lại với H, H ra mở cốp xe ô tô lấy 01 bình xịt hơi cay xịt về phía mặt anh B1, anh M, bà T7. Anh M hô hoán thì H bỏ chạy về phía xe ô tô định mở cửa lên xe nhưng anh M ôm, giữ H lại để nói chuyện khiến bình xịt hơi cay rơi xuống đất, bung tay nắm cửa xe ô tô. Sau đó, H tiếp tục chạy bộ về hướng xã L, N1 ngồi sang ghế lái, điều khiển xe ô tô của H đi về quán Karaoke “Kim N1” còn bà T5 được anh B1 yêu cầu đi vào trong nhà để nói chuyện. Sau đó, H điện thoại cho H2 nói “anh đang xích mích với mấy ông ở trên L, em có biết mấy ông này không lên nói chuyện hộ anh” thì H2 trả lời “vâng, để em lên xem như nào”. Sau đó, H gọi điện cho P nói “em và T lên thôn L anh có việc cần nhờ giúp”. Pháp hiểu ý là H đang có việc xảy ra mẫu thuẫn, khi này P đang đi chơi cùng T nên bảo T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead (không rõ biển kiểm soát) chở P về phòng trọ ở thôn N lấy 01 con dao rồi cùng nhau đi lên nhà anh B1. Sau đó, H gọi điện thoại cho P1 nói “ông có quen biết trên Dốc Khám thì lên đây xem như thế nào, tôi đang cãi nhau trên này”, thì P1 đồng ý. Khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, N1
điều khiển xe ô tô đi một mình; T điều khiển xe máy chở P cầm theo 01 con dao KT (49,5x4,5cm); H2 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mescedes, màu sơn trắng, BKS 30K-686.95 của H2 chở H3 cùng nhau đi đến gặp H. Lúc này, H bảo N1 đi bộ về còn H lái xe ô tô của H đi trước dẫn đường, cùng nhóm H2, H3, P1, Pháp, T đi đến phía trước cửa nhà anh B1. Tại đây, anh M đứng nói chuyện với nhóm H3, H2, H thì giữa anh M và H to tiếng với nhau, H3 can ngăn, đẩy H và M ra. Anh M quay sang nói chuyện với H2, nhiều lần nhắc tên “Hoàng B3” (Bơ là tên bà nội H2) thì H2, H3 có nhắc M là không nói tên bà của H2 nhưng M vẫn tiếp tục gọi tên “Hoàng B3”, H3 nói không được nên có quát “im mồm” để M không nói nữa; cùng lúc này do bực tức nên H2 dùng tay phải đấm 01 phát vào mặt M; H cũng lao vào dùng tay đấm 02-03 phát vào người M; T dùng tay phải đấm 01 phát vào người M. Sau đó, H vật ngã M xuống đường, Pháp cầm dao ra, tay phải dơ lên chém với 01 phát, do khi này M ngóc đầu lên nên sượt vào vùng đầu của M, thấy vậy H, H3 và những người xung quanh ôm P nên P không chém nữa. Sau đó, H2 chạy ra xe ô tô của H2, mở cửa ghế lái lấy 01 chiếc khóa dây bằng kim loại, màu vàng, hình tròn, dài 78cm vụt 01 phát về phía M nhưng trúng vào tay ông T6 đang đứng cạnh đó; khi này do người dân xung quanh can ngăn, H2 bị rơi khóa ra vỉa hè. Đến 20 giờ 29 phút cùng ngày, thấy lực lượng Công an đến giải quyết vụ việc thì cả nhóm dừng lại, chạy lên xe đi về. Trước khi đi Pháp vứt con dao vào nhà dân. Ngày 01/8/2025 và 13/8/2025, H, H2, Pháp đầu thú về hành vi phạm tội.
Hành vi của các bị cáo diễn ra trong thời gian từ 20 giờ 20 phút đến 20 giờ 29 phút ngày 30/5/2025 tại khu vực lòng đường và vỉa hè đường TL276 đoạn phía trước nhà ông B1 thuộc địa phận thôn L, xã L gây ách tắc giao thông, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Ngày 01/6/2025, Trưởng thôn và tổ trưởng tổ an ninh nông thôn thôn L báo cáo về sư việc nêu trên.
* Khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường xảy ra vụ gây rối trật tự công cộng tại khu vực đường và vỉa hè TL276 phía trước của nhà anh B1 có địa chỉ tại thôn L, xã L. Quá trình khám nghiệm mở rộng hiện trường là khu vực phòng khách nhà anh B1. Quá trình khám nghiệm thu giữ mẫu máu và 01 tay nắm cửa xe ô tô.
*Về thương tích:
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 09 ngày 11/8/2025: Tình trạng thương tích của M lúc vào viện: 01 vết thương vùng trán đỉnh dài xấp xỉ 2,5cm, rộng 0.5cm, sâu xấp xỉ 1cm, bờ sắc gọn. Vết thương vùng thái dương đỉnh phải dài xấp xỉ 3cm, rộng 0.5cm, sâu xấp xỉ 1cm, bờ sắc gọn. Sưng nề gò má trái vết thương thành sau ngực trái dài dấp xỉ 4.5cm, rộng 0,2cm, sâu xấp xỉ 0.3cm, bờ sắc gọn. Vết thương thành sau ngực phải dài xấp xỉ 5cm, rộng 0,2cm, sâu xấp xỉ 0.3cm, bờ sắc gọn. Vết xây xát da mặt sau khuỷu tay phải kích thước xấp xỉ 0.5x0.5cm. Vết xây xát da mặt trước ngoài cẳng chân trái kích thước xấp xỉ 5x1cm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
tỉnh B đã quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm thương tích, lập biên bản dẫn giải nhưng anh M kiên quyết từ chối. Đồng thời anh M có đơn xin rút yêu cầu cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B xử lý đối với hành vi gây thương tích cho M. Đối với ông T6, bà T5, bà T7 không đi điều trị, có đơn từ chối giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
* Các Kết luận giám định:
- Tại Bản kết luận giám định số 2639/KL-KTHS, ngày 30/9/2025, của Phòng K2, Công an tỉnh B kết luận:
- + Máu của Phạm Tiến M là nhóm máu O.
- + Mẫu chất màu nâu đỏ thu tại hiện trường gửi giám định (ký hiệu M1.1) là máu người, nhóm O, cùng với nhóm máu của Phạm Tiến M.
- + Mẫu chất màu nâu đỏ thu tại hiện trường gửi giám định (ký hiệu M1.2) là máu người, nhóm O, cùng với nhóm máu của Phạm Tiến M.
- + Mẫu chất màu nâu đỏ thu tại hiện trường gửi giám định (ký hiệu M1.3) là máu người, nhóm O, cùng với nhóm máu của Phạm Tiến M. (BL122)
- Tại Bản kết luận giám định số 2630/KL-KTHS, ngày 29/9/2025, của Phòng K2, Công an tỉnh B đối với 02 đoạn video thu giữ của Phạm Thị H5, sinh năm 2006 và Nguyễn Thị H6, sinh năm 1994, đều ở thôn L, xã L, tỉnh Bắc Ninh, kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa và biên tập nội dung hình ảnh trong (02) Tệp video mẫu cần giám định.
Quá trình điều tra xác định, ngoài hành vi phạm tội nêu trên, Trần Quang T còn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy cụ thể như sau: Trưởng làm công việc quản lý nhân viên gái hát Karaoke, thuê trọ tại thôn Đ, xã Đ và thường xuyên sử dụng ma túy. Buổi tối ngày 16/7/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T sử dụng tài khoản Zalo có tên “Trần Quang T” gọi điện cho tài khoản Z có tên “ION Deli” của nam thanh niên tên C là bạn quen biết xã hội để hỏi xin ma túy. Đến khoảng 0 giờ ngày 17/7/2025, C gọi lại, nhờ T mua hộ hoa quả mang đến cho C thì C sẽ đưa ma túy cho. Khoảng 01 giờ cùng ngày, C rủ bạn là Nguyễn Đăng D1, sinh năm 2000, HKTT tại thôn N, xã P, tỉnh Bắc Ninh chở T mang hoa quả sang cho C thì D1 đồng ý. Sau đó, D1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn xám, BKS: 99E1- 570.59 (xe của T) chở T ngồi sau chỉ đường đi đến khu vực thôn N, xã Đ. Khi đến nơi, T xuống xe đứng chờ, còn D1 điều khiển xe máy đi ra chỗ khác. Sau khi C đến, T đưa cho C túi hoa quả còn C đưa cho T 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma túy Ketamine. T cầm ở trong lòng bàn tay phải, đi ra chỗ D1 đang đứng chờ rồi cả hai đi về phòng trọ. Đến 01 giờ 40 phút cùng ngày, khi D1 đang đỗ xe bên ngoài phòng trọ, T vừa vào phòng trọ thì bị Công an xã Đ kiểm tra, do sợ bị phát hiện, T vứt gói ma túy từ lòng tay phải xuống đất. Lực lượng công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 túi
nilon màu trắng KT (4x7,5)cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng T khai là ma túy Ketamine T tàng trữ để sử dụng cho bản thân; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11Pro màu đen cùng thẻ sim, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu xám, BKS 99E1.570.59 (là xe của T).
Tại Bản kết luận giám định số 1451/KL-KTHS, ngày 18/7/2025, của Phòng K2, Công an tỉnh B, kết luận: Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) túi nilon màu trắng gửi giám định có khối lượng là 1,6406 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý: Ketamine.
* Vật chứng chưa xử lý :
- Ngày 30/5/2025, ông Phạm Tiến N2, sinh năm 1969, HKTT tại thôn L, xã V tự nguyện giao nộp 01 con dao màu trắng, bằng kim loại dài 49,5cm; lưỡi dao dài 37,5cm, rộng 4,5cm, chuôi dao dài 12cm; ông N2 khai là dao của nam thanh niên mặc áo cộc trắng vứt vào vườn.
- Ngày 31/5/2025, ông T6 giao nộp 01 chiếc khóa dây màu vàng, dài 78cm; 01 bình xịt hơi cay ông T6 khai là các đối tượng sử dụng đánh rồi bỏ lại hiện trường.
- 01 tay nắm cửa xe ô tô, màu đen, dài 30cm là của H; 01 chiếc áo phông cộc tay màu đen là của M, M đề nghị tiêu hủy, không xin lại.
- Ngày 31/5/2025, chị Nguyễn Thị H4, sinh năm 1975, HKTT tại thôn L giao nộp 01 chiếc điếu cày bằng gỗ dài 48,5cm là điếu cày B1 sử dụng để đẩy bà T5 ra khỏi nhà.
- Mẫu vật hoàn lại gửi kèm theo kết luận giám định số 1451/KL-KTHS, ngày 18/7/2025, của Phòng K2 .
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn xám, BKS: 99E1-570.59 là điện thoại và xe T sử dụng để đi lấy ma túy.
*Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, các bị can H, H2, Pháp, T đã tự nguyền bồi thường cho anh M số tiền 200.000.000đ, ông T6 số tiền 20.000.000 đồng là chi phí điều trị thương tích, tổn hại về sức khỏe, tinh thần... Sau khi nhận tiền, anh M và ông T6 không có yêu cầu đề nghị gì khác về dân sự và anh M có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị can.
Với nội dung trên, Cáo trạng số 32/CT – VKS KV8 ngày 26/11/2025 của VKSND khu vực 8 – Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Trần Quang T về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Truy tố các bị cáo Phạm Đức H, Nguyễn Đoàn P, Đào Anh H2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo trên đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nêu trên và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị HĐXX:
- Tuyên bố bị cáo Trần Quang T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuyên bố các bị cáo Phạm Đức H, Nguyễn Đoàn P và Đào Anh H2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 55, 58 Bộ luật hình sự, Xử phạt Trần Quang T từ 02 năm tù đến 02 năm 04 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 03 năm 02 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Trần Quang T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 05 năm 02 tháng tù đến 05 năm 10 tháng tù. Thời hạn tù tính ngày 17/7/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 65, 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Phạm Đức H, Nguyễn Đoàn P và Đào Anh H2 mỗi bị cáo từ 28 đến 32 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 56 đến 60 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c, a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao; 01 chiếc khóa dây; 01 chiếc áo phông; 01 chiếc điếu cày; 01 thẻ sim; mẫu vật ma túy còn lại sau giám định
- + Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Các bị cáo trên đều nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện VKS, chỉ đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; về các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, lấy lời khai người chứng kiến, xác định hiện trường vụ án, xác minh lý lịch, nhân thân của bị can; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can, người liên quan. Các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Lời khai nhận tội của các bị cáo T, P, H và H2 tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay phù hợp, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, các bản tự khai, các biên bản ghi lời khai của bị cáo, người liên quan, người chứng kiến và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định:
Khoảng từ 20 giờ 20 phút đến 20 giờ 29 phút ngày 30/5/2025, tại khu vực lòng đường và vỉa hè Tỉnh lộ 276 đoạn phía trước cửa nhà anh Nguyễn Tiến B4 thuộc địa phận thôn L, xã L, tỉnh Bắc Ninh; Phạm Đức H, Đào Anh H2, Nguyễn Đoàn P, Trần Quang T có hành vi gây rối trật tự công cộng, cụ thể như sau: H có hành vi dùng bình xịt hơi cay xịt vào mặt anh B4 và anh M, dùng tay không vật ngã anh M, đấm vào người anh M 2-3 cái; P lấy 01 con dao KT 49,5x4,5cm chém với 01 phát, sượt vào vùng đầu, gây thương tích cho anh M; H2 dùng tay không đấm 01 phát vào mặt M, dùng khóa dây dài 78cm vụt 01 phát vào tay ông T6; T lái xe chở P đi lấy dao, dùng tay không đấm 01 phát vào người anh M. Sự việc diễn ra trong thời gian khoảng 10 phút gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây ách tắc giao thông.
Ngoài ra, vào hồi 01 giờ 40 phút ngày 17/7/2025, tại phòng trọ của T tại thôn Đ, xã Đ, Công an xã Đ phát hiện, bắt quả tang T có hành vi tàng trữ trái phép 1,6406gam ma túy Ketamine để sử dụng cho bản thân.
Do vậy đủ cơ sở để kết luận: Trần Quang T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Phạm Đức H, Nguyễn Đoàn P, Đào Anh H2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
[2.2] Hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm gây mất trật tự nơi công cộng của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến an toàn công cộng được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ, gây ra sự hoang mang, lo lắng trong dư luận quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội của
địa phương. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy còn là nguồn gốc dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
[2.3] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án này đối với hành vi ‘Gây rối trật tự công cộng' thì thấy:
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự chuẩn bị trước, tất cả các bị cáo đều trực tiếp thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng. Trong đó P chuẩn bị dao từ đầu và dùng dao chém 01 phát vào anh M, là người có vai trò cao nhất. H là người gọi các bị cáo còn lại đến hiện trường, trực tiếp xịt hơi cay vào anh B4, vật anh M ngã xuống và đấm anh M xuống, H2 là người đấm 01 cái vào người anh M, dùng khóa dây dài 78cm vụt 01 phát vào tay ông T6 nên H và H2 có vai trò thứ hai, ngang nhau. T lái xe chở P đi lấy dao, dùng tay không đấm 01 phát vào người anh M nên có vai trò thấp nhất.
[2.3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, được anh M có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; các bị cáo H, Pháp, H2 đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1,2 điều 51 BLHS.
[2.5] Về hình phạt:
Đối với Trần Quang T phạm đồng thời hai tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật, khó giáo dục và cải tạo nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đối với các bị cáo Nguyễn Đoàn P, Phạm Đức H và Đào Anh H2: Bị cáo P có nhân thân tốt; bị cáo H2 và H từng bị xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo nhưng đã được xóa án tích từ lâu, các bị cáo này đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, tích cực bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, được ông M có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Nên không cần cách ly các bị cáo này ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 65 BLHS cũng có đủ điều kiện để răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
[2.6] Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 con dao màu trắng, bằng kim loại dài 49,5cm; lưỡi dao dài 37,5cm, rộng 4,5cm, chuôi dao dài 12cm của P dùng để chém ông M, là công cụ tội phạm, có giá trị sử dụng nhỏ nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc khóa dây màu vàng, dài 78cm mà H2 dùng để vụt vào người ông T6; 01 bình xịt hơi cay mà H dùng để xịt vào ông B4, là công cụ tội phạm, có giá trị sử dụng nhỏ nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 tay nắm cửa xe ô tô, màu đen, dài 30cm là của bị cáo H; 01 chiếc áo phông cộc tay màu đen là của ông M, ông M và bị cáo H đề nghị tiêu hủy. Nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc điếu cày bằng gỗ dài 48,5cm là điếu cày ông B4 sử dụng để đẩy bà T5 ra khỏi nhà. Ông B4 không có yêu cầu gì nên tịch thu tiêu hủy.
- Mẫu vật ma túy còn lại sau giám định, là vật cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn xám, BKS: 99E1- 570.59 là điện thoại và xe T sử dụng để đi lấy ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với 01 thẻ sim điện thoại, T dùng để liên lạc mua ma túy, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[2.7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, các bị cáo H, H2, Pháp, T đã tự nguyền bồi thường cho anh M số tiền 200.000.000đ, ông T6 số tiền 20.000.000 đồng là chi phí điều trị thương tích, tổn hại về sức khỏe, tinh thần...Sau khi nhận tiền, ông M và ông T6 không có yêu cầu đề nghị gì khác về dân sự và ông M có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Đến nay những người liên quan là bà Nguyễn Thị T5, ông Phạm Tiến M, ông Phạm Tiến B1, ông Phạm Tiến T6 đều không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.
[2.8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” còn có thể bị phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, tuy nhiên bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[2.9] Liên quan đến vụ án này:
- Đối với Trần Thế H3 và Trần Thế P1: Khi H gọi người chỉ nói đến để giải quyết công việc, P1 và H3 có mặt tuy nhiên không tham gia, không có lời nói, hành động xô xát, đuổi đánh nhau. Cơ quan điều đã nhiều lần triệu tập nhưng P1, H3 đều vắng mặt tại địa phương nên khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
- Đối với hành vi của bà Nguyễn Thị T5, chị Nguyễn Thị Kim N1: Khi bà T5 gọi điện thoại cho N1, H nói lên để nói chuyện về việc trả nợ, quá trình bà T5 xô đẩy với ông B1 diễn ra trong nhà của ông B1; bà T5 và chị N1 không có lời nói chửi bới, hành động xô xát đuổi đánh nhau; khi chị N1 ngồi trên xe, quay xe để ra về thì P và H tự mở cửa lên xe nên chị N1 điều khiển xe đi về do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B chỉ giáo dục nhắc nhở đối với bà T5, chị N1 là phù hợp.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead mà T điều khiển chở P đến nhà anh B1, quá trình điều tra Pháp khai nhận chiếc xe máy do Pháp mượn của nhân viên gái hát tên T8; hiện tại T8 không còn làm nhân viên gái hát, bản thân Pháp không biết cụ thể thông tin của T8, không biết T8 hiện đang làm gì, ở đâu nên không có đủ căn cứ để xác minh, làm rõ; khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
- Đối với người đàn ông tên C – là người cho T ma túy: T khai không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của C, chỉ liên hệ qua tài khoản Zalo của C có tên là “ION Deli”, Cơ quan điều tra đã gửi công văn đề nghị cung cấp thông tin chủ tài khoản Zalo kể trên nhưng đến nay chưa có kết quả. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
- Đối với hành vi của D1 – là người chở T đi lấy ma túy: D1 không biết việc T đi lấy ma túy, do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra giáo dục, nhắc nhở là phù hợp.
- Đối với hành vi khua khoắng điếu cày trúng vào tay của T5, hành vi giữ H lại của M: Việc B1 dùng điếu cày khua khoắng đuổi bà T5 ra khỏi phòng khách của B1 thì trúng phần cánh tay của bà T5, quá trình giải quyết, bà T5 không có yêu cầu đề nghị gì. Đối với M, M chỉ ôm H để giữ lại nói chuyện do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra chỉ giáo dục nhắc nhở là phù hợp.
- Đối với thương tích của anh M: Quá trình giải quyết, tại hiện trường Pháp cùng những người có mặt tại hiện trường khai Pháp chỉ chém với 01 phát sau đó được mọi người ôm can ngăn, khi này người đông, hiện trường hỗn loạn thì không biết con dao có gây thương tích cho ai khác không. Do vậy, chỉ đủ căn cứ xác định Pháp chém 01 phát gây thương tích cho M.
[3] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Quang T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuyên bố các bị cáo Phạm Đức H, Nguyễn Đoàn P và Đào Anh H2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 55, 58 Bộ luật hình sự, Xử phạt Trần Quang T 02 (Hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 03 (Ba) năm 02 (Hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Trần Quang T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 05 (Năm) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn tù tính ngày 17/7/2025.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 65, 58 Bộ luật hình sự, Xử phạt:
- Phạm Đức H, Nguyễn Đoàn P và Đào Anh H2 mỗi bị cáo 28 (Hai mươi tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 56 (Năm mươi sáu). Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao Phạm Đức H và Đào Anh H2 cho UBND xã L, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Giao Nguyễn Đoàn P cho UBND xã Đ, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Áp dụng 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tạm giam bị cáo Trần Quang T mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao màu trắng, bằng kim loại dài 49,5cm; lưỡi dao dài 37,5cm, rộng 4,5cm, chuôi dao dài 12cm; 01 chiếc khóa dây màu vàng, dài 78cm; 01 bình xịt hơi cay; 01 tay nắm cửa xe ô tô, màu đen, dài 30cm; 01 chiếc áo phông cộc tay màu đen; 01 chiếc điếu cày bằng gỗ dài 48,5cm; 01 thẻ sim, mẫu vật ma túy còn lại sau giám định (đựng trong Phong bì niêm phong).
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn xám, BKS: 99E1- 570.59.
- Về án phí: Các bị cáo Trần Quang T, Phạm Đức H, Nguyễn Đoàn P, Đào Anh H2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 Đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bán án có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Đình Công |
Bản án số 87/2025/HSST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH về hình sự
- Số bản án: 87/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng, tàng trữ trái phép chất ma túy
