Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:67/2025/HNGĐ-ST

Ngày 18-12-2025

V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thiện

Bà Trần Thị Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Chức – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Thân Văn Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 291/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1999; nơi thường trú: thôn C, xã T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
  2. Bị đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1998; nơi cư trú: thôn C, xã P, tỉnh Bắc Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 24/10/2025, Bản tự khai và các lời khai tiếp theo nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Anh T và chị Trần Thị N đi đăng ký kết hôn ngày 23/3/2023 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Bắc Ninh). Trước khi kết hôn, anh chị được tư do tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân. Sau khi kết hôn, chị N về ở cùng anh T và sống chung với bố mẹ anh T. Cuộc sống ban đầu hạnh phúc, sau đó nảy sinh mâu thuẫn do làm ăn kinh tế, vợ chồng chậm có con và do anh T bị tai nạn. Đến ngày 02/9/2025, chị Trần Thị N bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã P, tỉnh Bắc Ninh sinh sống. Từ khi chị N bỏ về nhà mẹ đẻ thì gia đình anh T có xuống để khuyên ngăn và hòa giải nhưng không có kết quả. Anh T nhiều lần gọi điện nhưng chị N không nghe máy và không còn quan tâm gì đến nhau. Nay anh T thấy tình cảm với chị N không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị N.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: anh T không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên toà anh T có mặt giữ nguyên yêu cầu ly hôn với chị N. Về con chung, tài sản chung không có, không yêu cầu giải quyết.

* Tại bản tự khai ngày 31/10/2025 của bị đơn chị Trần Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị N kết hôn với anh Nguyễn Văn T ngày 23/3/2023 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Bắc Ninh). Chị và anh T được tự do tìm hiểu và tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi cưới xong, chị về nhà anh T làm dâu ngay và sống chung với bố mẹ anh T. Cuộc sống ban đầu hạnh phúc, đến năm 2025 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống và vợ chồng khó có con. Đến tháng 09/2025, chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã P để sinh sống, trong khoảng thời gian này anh T không đến đón chị về để vợ chồng đoạn tụ và chị cũng không về chung sống với anh T. Từ đó đến nay, vợ chồng không liên lạc gì với nhau, khoảng giữa tháng 9/2025, bố mẹ anh T có đến nhà bố mẹ chị N để khuyên nhủ, hòa giải nhưng không có kết quả. Nay chị N cũng nhận thấy không còn tình cảm với anh T nên chị đồng ý ly hôn với anh T.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa chị N vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Bắc Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đảm bảo theo quy định.

Đối với những người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn xử cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn chị Trần Thị N.

Về con chung: không có, không giải quyết.

Về án phí: anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào ý kiến đề nghị của đương sự. Căn cứ vào kết quả thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: anh Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Trần Thị N có nơi thường trú tại thôn C, xã P, tỉnh Bắc Ninh. Tòa án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh đã thụ lý giải vụ án “Ly hôn” là đúng pháp luật, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành nên đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.

Tại phiên tòa bị đơn chị Trần Thị N vắng mặt nhưng chị N có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị N là đúng quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị N đăng ký kết hôn ngày 23/3/2023 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Bắc Ninh). Trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu, tự nguyện đi đến hôn nhân, không bị ai ép buộc nên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn, chị N về ở cùng anh T và vợ chồng sống chung với bố mẹ anh T. Cuộc sống ban đầu hạnh phúc, sau đó nảy sinh mâu thuẫn do làm ăn kinh tế, vợ chồng chậm có con và do anh T bị tai nạn. Đến ngày 02/9/2025, chị Trần Thị N bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã P, tỉnh Bắc Ninh sinh sống. Anh T và gia đình đã khuyên nhủ chị N về đoàn tụ nhưng không có kết quả. Nay anh T thấy tình cảm với chị N không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh xin ly hôn với chị N. Về phía chị N nhất trí với lời trình bày của anh T về thời điểm kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn và thởi điểm sống ly thân. Chị N đồng ý ly hôn với anh T. Hội đồng xét xử thấy tình nghĩa vợ chồng giữa anh T và chị N đã không thực hiện đầy đủ theo Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình là phải yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình và sống chung với nhau; quan hệ hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình, cần xử cho anh T được ly hôn chị N là phù hợp.

[3] Về con chung: Anh T, chị N không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: anh T, chị N không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[6] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 146, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T được ly hôn anh chị Trần Thị N.
  2. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002565 ngày 29 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh (Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 – Bắc Ninh). Xác nhận anh Nguyễn Văn T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 3;
  • - THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - UBND xã Tân Yên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đoàn Thị Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/HNGĐ-ST ngày 18/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - BẮC NINH về ly hôn

  • Số bản án: 67/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Tr ly hôn Trần Thị Ng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger