|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2025/HS-ST Ngày 03-12-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng;
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Lợi;
Bà Chu Thị Bời.
Thư ký phiên toà: Ông Triệu Tuấn Bình - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Lan Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025 và Quyết định về việc thay đổi người tiến hành tố tụng số 36/2025/QĐ-TA ngày 28/11/2025 đối với bị cáo:
Lại Thành T (Lai C); sinh ngày 26/3/1994 tại tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc; số căn cước công dân: 452123199403263419 do Công an huyện T, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc cấp; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số I, thôn L, ủy hội thôn D, trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Tốt nghiệp sơ trung; dân tộc: Hán; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Trung Quốc; con ông Lại L (sinh năm 1965) và bà Phan Thanh B (sinh năm 1969); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ ngày 21/3/2025, tạm giam ngày 24/3/2025 đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Chu Thị Nguyễn P, Luật sư Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh L. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Chị Đinh Thị T1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn B, xã H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn B, xã H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- Anh Phạm Trần Đ, sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn B, xã H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- Chị Ngô Thúy T2, sinh năm 1982. Địa chỉ: Tổ A, khu G, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Chị Lương Thu H. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Xuân T3. Vắng mặt.
- Người phiên dịch tiếng Việt - T4: Ông Nông Bảo A, Phó đội trưởng Đội tham mưu tổng hợp, Phòng PC04 Công an tỉnh L. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng năm 2020 tại thành phố N, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, Lại Thành T mua 2000 tiền Nhân dân tệ (NDT) giả với giá 1.000 NDT với một người đàn ông lái taxi tại Trung Quốc (không rõ lai lịch). Sau khi đưa 1.000 NDT tiền thật, người lái xe taxi đưa cho Lại Thành Thiêm 01 thếp tiền NDT giả loại mệnh giá 100 NDT/tờ và nói đủ 2.000 NDT giả, Lại Thành T không kiểm đếm rồi mang về nhà cất (thực tế chỉ có 1900 NDT giả).
Ngày 03/3/2025, Lại Thành T nhập cảnh vào Việt Nam chơi 01 ngày rồi quay về. Thấy việc đem tiền Nhân dân tệ giả vào tiêu thụ ở Việt Nam sẽ khó bị phát hiện so với ở Trung Quốc, Lại Thành T nảy sinh ý định đem 1900 NDT giả nêu trên vào Việt Nam tiêu thụ. Ngày 15/3/2025, Lại Thành T mang theo 1900 NDT giả và hơn 3.000 NDT thật nhập cảnh vào Việt Nam bằng hộ chiếu số EK5381871 và giấy thị thực có số DA8869360 qua cửa khẩu quốc tế H1, tỉnh Lạng Sơn và thuê phòng tại nhà nghỉ E thuộc thôn K, xã H, tỉnh Lạng Sơn để lưu trú. Trong thời gian lưu trú tại đây, Lại Thành T đã tiêu thụ 400 NDT giả tại khu chợ C, xã H, tỉnh Lạng Sơn bằng cách dùng tiền giả mua các hàng hóa có giá trị thấp để được bù lại tiền thật, cụ thể:
- - Lần 1: Khoảng 13 giờ ngày 17/3/2025, Lại Thành T dùng 01 tờ tiền NDT giả loại mệnh giá 100 NDT/tờ đến quầy bán hạt dẻ của chị Đinh Thị T1 để mua 01 kg hạt dẻ với giá 70.000 đồng. Chị Đinh Thị T1 bù lại cho Lại Thành T 280.000 đồng.
- - Lần 2: Khoảng 18 giờ ngày 18/3/2025, Lại Thành T dùng 01 tờ tiền NDT giả loại mệnh giá 100 NDT/tờ đến cửa hàng bán giầy dép của Nguyễn Thị M để mua 01 đôi dép tông với giá 20 NDT. Chị Nguyễn Thị M bù cho Lại Thành T 80 NDT thật.
- - Lần 3: Khoảng 17 giờ ngày 19/3/2025, Lại Thành T dùng 01 tờ tiền NDT giả loại mệnh giá 100 NDT/tờ đến quầy bán bánh mì và nước hoa quả của Phạm Trần Đ để mua bánh mì kẹp thịt và nước hoa quả với giá 110.000 đồng. Anh Phạm Trần Đ bù cho Lại Thành T 240.000 đồng.
- - Lần 4: Khoảng hơn 17 giờ ngày 19/3/2025, Lại Thành T dùng 01 tờ tiền NDT giả loại mệnh giá 100 NDT/tờ đến quầy bán hoa quả của Ngô Thúy T2 để mua hoa quả với giá 170.000 đồng. Chị Ngô Thúy T2 bù cho Lại Thành T 180.000 đồng.
Sau khi nhận số tiền Việt Nam được bù Lại Thành T đã để lẫn vào số tiền Nhân dân tệ giả còn lại (1500 NDT giả) và mang về để tại phòng nghỉ, còn 80 NDT thật được bù thì Lại Thành T để lẫn vào số tiền NDT thật mang theo người.
Quá trình điều tra thu giữ tại phòng nghỉ 602, nhà nghỉ 555 số tiền 1500 NDT giả (gồm 15 tờ mệnh giá 100 NDT) cùng số tiền 685.000 đồng tiền Việt Nam, 01 điện thoại Iphone 14 Promax, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Honor, 01 hộ chiếu và 01 thẻ căn cước công dân mang tên Lại Thành T; thu giữ trong túi áo bên trái trên người của Lại Thành T có 27 tờ tiền mệnh giá 100 NDT/tờ, 01 tờ tiền mệnh giá 20 NDT/tờ, 10 tờ tiền mệnh giá 10 NDT/tờ và 01 tờ tiền mệnh giá 05 NDT/tờ, tổng giá trị là 2.825 NDT.
Ngày 20/3/2025, chị Nguyễn Thị M, anh Phạm Trần Đ, chị Ngô Thúy T2, chị Đinh Thị T1 giao nộp cho Công an xã H, tỉnh Lạng Sơn 04 tờ tiền NDT mệnh giá 100 NDT nghi là tiền giả. Những người này khai trước đó có người đàn ông Trung Quốc đến mua hàng đưa cho các tờ tiền NDT này. Chị Lương Thu H cũng đến giao nộp 01 tờ tiền mệnh giá 100 NDT nghi là tiền giả.
Tại Kết luận giám định số 273/KLGĐ-KTHS ngày 23/3/2025 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: Toàn bộ số tiền Trung Quốc gồm 2000 NDT loại mệnh giá 100 NDT/tờ (15 tờ có số seri: POP 8843423; 05 tờ có số seri: KE 59830221) gửi giám định là tiền giả. Toàn bộ số tiền Việt Nam gồm 685.000 đồng (02 tờ loại mệnh giá 200.000 đồng/tờ có số seri: HH 21504918, HH 19857393; 02 tờ loại mệnh giá 100.000 đồng/tờ có số seri: RR16715527, HG 19486797; 04 tờ loại mệnh giá 20.000đ/tờ có số seri: OC 21439252, JC 21826693, YF 20165662, SX 22375042 và 01 tờ loại mệnh giá 5.000 đồng/tờ có số seri: 0159050) gửi giám định là tiền thật.
Tại bản kết luận giám định số 451/KL-KTHS ngày 13/6/2025 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: 27 tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 100 NDT/tờ, 01 tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 20 NDT/tờ, 10 tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 10 NDT/tờ, 01 tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 5 NDT/tờ là tiền thật.
Tại công văn số 332/KV5-TH ngày 08/4/2025 của Ngân hàng N khu vực 5 cung cấp thông tin tỷ giá, quy đổi tiền Nhân dân tệ (CNY) sang tiền Việt Nam đồng (VND) tại thời điểm ngày 20/3/2025 như sau: 01 CNY bằng 3.427,58 VND.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Ngày 15/3/2025, bị cáo nhập cảnh vào Việt Nam mang theo số tiền 1.900 NDT giả và khoảng hơn 3000 NDT tiền thật, bị cáo đã dùng để chi tiêu ăn uống và ngủ nghỉ. Trong đó, bị cáo đã dùng 300 NDT tiền thật để trả tiền nhà nghỉ, còn lại số tiền hơn 2700 NDT, một số tiền Việt Nam và các điện thoại di động, giấy tờ tùy thân bị cáo đề nghị được trả lại do không liên quan đến hành vi phạm tội. Do bị cáo không biết tiếng Việt và không biết các loại mệnh giá tiền Việt Nam nên bị cáo không giải thích được vì sao số tiền Việt Nam bị thu giữ không khớp với số tiền mà lẽ ra bị cáo được những người bán hàng bù lại. Số tiền thật 80 NDT bị cáo được bù lại bị cáo đã để lẫn vào số tiền thật mang theo trên người. Bị cáo chấp nhận trả lại số tiền bị thiệt hại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nếu họ có yêu cầu.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thị M, anh Phạm Trần Đ, chị Ngô Thúy T2 không có yêu cầu gì đối với số tiền bị thiệt hại. Chị Đinh Thị T1 đề nghị bị cáo trả lại cho chị số tiền 350.000 đồng.
Người làm chứng ông Nguyễn Xuân T3 khai được bị cáo trả tiền phòng nghỉ là 300 NDT gồm 03 tờ tiền 100 NDT, ông không biết số tiền này là tiền giả hay tiền thật, số tiền này ông đã đổi cho một người khách (không rõ nhân thân) để lấy tiền Việt Nam.
Người làm chứng chị Lương Thu H trình bày: Chiều ngày 20/3/2025, trong quá trình kiểm đếm tiền bán hàng tại quán C1 ở địa chỉ: Tầng A, Trung tâm thương mại V, đường Trục Chính, thôn B, xã H, tỉnh Lạng Sơn thì phát hiện có 01 tờ tiền Nhân dân tệ loại mệnh giá 100 NDT, số seri POP8843423 nghi là tiền giả nên đã nộp cho cơ quan Công an. Do hệ thống camera an ninh của quán cà phê bị hỏng nên không trích xuất xem lại dữ liệu được. Chị không biết nguồn gốc của tờ tiền này là của ai đem đến quán trả tiền. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho chị Lương Thu H nhận dạng các đối tượng, trong đó có đối tượng Lại Thành T nhưng chị khẳng định không nhận ra ai và cùng không quen biết ai trong bản ảnh. Tiến hành cho bị cáo Lại Thành T đến quán C1 để xác định hiện trường, bị cáo khẳng định bị cáo không được mang tờ tiền 100 NDT giả đến đây để tiêu thụ.
Tại Cáo trạng số 02/CT-VKSLS-P1 ngày 03/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Lại Thành T về tội Lưu hành tiền giả theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lại Thành T phạm tội Lưu hành tiền giả theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lại Thành T 05 đến 06 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Trục xuất bị cáo ra khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Áp dụng điểm a, b, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy các tờ tiền giả; tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 420.000 đồng tiền Việt Nam và 80 NDT thật; trả lại cho bị cáo số tiền 265.000 đồng và 2.745 NDT, các điện thoại lắp kèm sim và các giấy tờ tùy thân. Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Đinh Thị T1 số tiền 350.000 đồng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Người bào chữa cơ bản nhất trí với các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự do bị cáo là người nước ngoài, hiểu biết pháp luật Việt Nam còn hạn chế.
Kiểm sát viên đối đáp, không nhất trí với đề nghị của người bào chữa do trước khi phạm tội, bị cáo nhận thức được hành vi tiêu thụ tiền giả là vi phạm pháp luật và cho rằng ở Việt Nam tiêu thụ tiền giả dễ hơn ở Trung Quốc nên mới mang tiền giả sang Việt Nam tiêu thụ.
Lời nói sau cùng, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình; mong Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử, giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
- [3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định: Từ ngày 15/3/2025 đến ngày 20/3/2025, tại khu vực xã H, tỉnh Lạng Sơn, Lại Thành T có hành vi lưu hành 1.900 NDT là tiền giả có giá trị tương ứng với tiền Việt Nam là 6.512.402 đồng.
- [4] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có thể nhận thức được hậu quả của hành vi phạm tội của mình nhưng vẫn cố ý thực hiện.
- [5] Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lại Thành T phạm tội Lưu hành tiền giả theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ.
- [6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- [7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Không chấp nhận đề nghị của người bào chữa về việc áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo là người nước ngoài, hiểu biết pháp luật Việt Nam hạn chế theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự bởi bản thân bị cáo nhận thức được hành vi tiêu thụ tiền giả là vi phạm pháp luật.
- [8] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, chưa từng bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật.
- [9] Đánh giá bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, số tiền phạm tội của bị cáo ở gần sát mức khởi điểm của khung hình phạt nên mức hình phạt đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa là có căn cứ chấp nhận.
- [10] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- [11] Về trách nhiệm dân sự: Do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Đinh Thị T1 đề nghị bị cáo bồi thường số tiền 350.000 đồng gồm giá trị 01 kg hạt dẻ là 70.000 đồng và số tiền 280.000 đồng. Do vậy, bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Đinh Thị T1 số tiền 350.000 đồng theo quy định tại Điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án còn lại không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [12] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền giả không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền thật 80 NDT và 420.000 đồng bị cáo được chị Nguyễn Thị M, chị Ngô Thúy T2 và anh Phạm Trần Đ bù lại khi tiêu thụ tiền giả cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 2.745 Nhân dân tệ thật bị cáo mang theo trước khi vào Việt Nam và 265.000 đồng là số tiền chị Đinh Thị T1 bù lại cho bị cáo và các điện thoại di động, giấy tờ tùy thân; do bị cáo đã có trách nhiệm bồi thường dân sự cho chị Ngô Thúy T2 và các vật chứng không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2 và điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [13] Về án phí: Bị cáo bị kết án và có trách nhiệm bồi thường dân sự nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- [14] Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1, 4 Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [15] Đối với 01 tờ tiền 100 NDT do chị Lương Thu H giao nộp, do không đủ có căn cứ chứng minh đây là số tiền của bị cáo Lại Thành T mang đi tiêu thụ nên không xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự.
- [16] Do bị cáo là người nước ngoài nên cần thiết trục xuất bị cáo ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 207; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 37; Điều 38; Điều 50; điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 và điểm a, b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293; khoản 1, 4 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 357, 468, 584, 589 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh
- Về hình phạt
- Trách nhiệm dân sự
- Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp
- 4.1. Tịch thu tiêu hủy
- - 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 11 tờ tiền Nhân dân tệ giả loại mệnh giá 100 NDT/tờ có cùng số seri POP8843423 và 04 tờ tiền Nhân dân tệ giả loại mệnh giá 100 NDT/tờ có cùng số seri KE59830221 (đã giám định),
- - 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 01 tờ tiền nhân dân tệ giả loại mệnh giá 100 NDT/tờ, có số seri POP8843423 (đã giám định),
- - 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 01 tờ tiền nhân dân tệ giả loại mệnh giá 100 NDT/tờ, có số seri POP8843423 (đã giám định),
- - 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 01 tờ tiền nhân dân tệ giả loại mệnh giá 100 NDT/tờ, có số seri POP8843423 (đã giám định),
- - 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 01 tờ tiền nhân dân tệ giả loại mệnh giá 100 NDT/tờ, có số seri POP8843423 (đã giám định),
- - 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 01 tờ tiền nhân dân tệ giả loại mệnh giá 100 NDT/tờ, có số seri KE59830221 (đã giám định).
- 4.2. Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước
- - Số tiền 420.000 (bốn trăm hai mươi nghìn) đồng trong tổng số tiền 685.000 (sáu trăm tám mươi lăm nghìn) đồng, được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong, bên trong có 02 (hai) tờ tiền Việt Nam loại mệnh giá 200.000đ/tờ (hai trăm nghìn Việt Nam đồng) có những số seri sau: HH21504918, HH19857393; 02 (hai) tờ tiền Việt Nam loại mệnh giá 100.000đ/tờ (một trăm nghìn Việt Nam đồng) có những số seri sau: RR16715527, HG19486797; 04 (bốn) tờ tiền Việt Nam loại mệnh giá 20.000đ/tờ (hai mươi nghìn Việt Nam đồng) có những số seri sau: OC21439252, JC21826693, YF20165662, SX22375042; 01 (một) tờ tiền Việt Nam loại mệnh giá 5.000đ/tờ (năm nghìn Việt Nam đồng) có số seri: 0159050 (đã giám định);
- - Số tiền 80 (tám mươi) Nhân dân tệ trong tổng số tiền 2.825 (hai nghìn tám trăm hai mươi lăm) Nhân dân tệ, được niêm phong trong 01 (một) phong bì bên trong có 27 (hai mươi bảy) tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 100 NDT/tờ; 01 (một) tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 20 NDT/tờ; 10 (mười) tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 10 NDT/tờ; 01 (một) tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 05 NDT/tờ (đã giám định).
- 4.3. Trả lại cho bị cáo Lại Thành T
- - Số tiền 265.000 (hai trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng trong tổng số tiền 685.000 (sáu trăm tám mươi lăm nghìn) đồng, được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong, bên trong có 02 (hai) tờ tiền Việt Nam loại mệnh giá 200.000đ/tờ (hai trăm nghìn Việt Nam đồng) có những số seri sau: HH21504918, HH19857393; 02 (hai) tờ tiền Việt Nam loại mệnh giá 100.000đ/tờ (một trăm nghìn Việt Nam đồng) có những số seri sau: RR16715527, HG19486797; 04 (bốn) tờ tiền Việt Nam loại mệnh giá 20.000đ/tờ (hai mươi nghìn Việt Nam đồng) có những số seri sau: OC21439252, JC21826693, YF20165662, SX22375042; 01 (một) tờ tiền Việt Nam loại mệnh giá 5.000đ/tờ (năm nghìn Việt Nam đồng) có số seri: 0159050 (đã giám định);
- - Số tiền 2.745 (hai nghìn bảy trăm bốn mươi lăm) Nhân dân tệ trong tổng số tiền 2.825 (hai nghìn tám trăm hai mươi lăm) Nhân dân tệ, được niêm phong trong 01 (một) phong bì bên trong có 27 (hai mươi bảy) tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 100NDT/tờ; 01 (một) tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 20NDT/tờ; 10 (mười) tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 10NDT/tờ; 01 (một) tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 5 NDT/tờ (đã giám định).
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu đen nhám, IMEI: 35 3938205864154, IMEI 2: 353938205968989 bên trong chứa 01 (một) sim có số thuê bao: 15977916701; máy cũ, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Honor, màu đen, IMEI: 861301064682552. IMEI: 861301064628951. bên trong chứa 01 (một) sim có số thuê bao: 18176203316, máy cũ, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) hộ chiếu tên LAI CHENG TIAN số: EK5381871 và giấy thị thực có số: DA8869360.
- - 01 (một) thẻ cứng căn cước công dân mang tên LAI CHENG TIAN, số 452123199403263419.
- Án phí
- Quyền kháng cáo
Tuyên bố bị cáo Lại Thành T phạm tội Lưu hành tiền giả.
Xử phạt bị cáo Lại Thành T 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 21/3/2025.
Trục xuất bị cáo Lại Thành T ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.
Bị cáo Lại Thành T có trách nhiệm bồi thường cho chị Đinh Thị T1 số tiền 350.000 (ba trăm năm mươi nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền phải thi hành án, mà người phải thi hành án chậm thi hành án, thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/11/2025 giữa Cán bộ thuộc Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Lạng Sơn).
Bị cáo Lại Thành T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (03/12/2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 03/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN về lưu hành tiền giả (tội phạm hình sự)
- Số bản án: 40/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lưu hành tiền giả (Tội phạm hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Từ ngày 15/3/2025 đến ngày 20/3/2025, tại khu vực xã H, tỉnh Lạng Sơn, Lại Thành T có hành vi lưu hành 1.900 Nhân dân tệ là tiền giả có giá trị tương ứng với tiền Việt Nam là 6.512.402 đồng.
