TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 124/2025/DS-PT
Ngày 08/12/2025
“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất, kiện đòi tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Hữu Tăng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hân
Ông Trương Quang Tú.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên: Bà Nguyễn Thị Anh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 109/2025/TLPT-DS, ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, kiện đòi tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 09/2025/DS-ST, ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Hưng Yên bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Lê Trọng Q, sinh năm 1961 (có mặt).
Trú tại: Thôn H, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn H, xã K, tỉnh Hưng Yên).
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966 (vắng mặt).
Trú tại: Thôn E, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn E T, xã C, tỉnh Hưng Yên).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1.1 Bà Đỗ Thị Đ, sinh năm 1966 (vắng mặt);
Trú tại: Xóm B, thôn H, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay là xóm B, thôn H, xã K, tỉnh Hưng Yên).
1.2 Chị Vũ Thị T, sinh năm 1987 (vắng mặt);
HKTT: Số A, nhà V, khu đô thị R, 79 N, phường H, quận H, thành phố Hà Nội (nay là số 14, nhà V, khu đô thị R, 79 N, phường H, tp Hà Nội).
1.3. Chị Vũ Thị B, sinh năm 1989 (vắng mặt);
HKTT, TT: Số nhà E, đường N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay là số nhà E, đường N, xã K, tỉnh Hưng Yên).
1.4. Chị Lê Thị N, sinh năm 2000 (vắng mặt);
HKTT: Thôn E, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn E T, xã C, tỉnh Hưng Yên).
Cơ quan có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Xí nghiệp K;
Đại diện theo pháp luật là ông Lê Văn V- Giám đốc xí nghiệp K (vắng mặt).
2. Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Hưng Yên;
Người đại diện theo pháp luật ông Đào Văn H1 - Chủ tịch UBND xã C (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, ông Lê Trọng Q trình bày:
Ông có sống chung như vợ chồng với bà Nguyễn Thị H từ năm 2000 cho đến năm 2022. Nhưng ông và bà H không có đăng ký kết hôn.
Năm 2005 ông và bà H có mua một mảnh đất của Ủy ban nhân dân tỉnh H bán với giá 21.000.000₫ diện tích là 50m² tại thửa số 724, tờ bản đồ 06 thuộc thôn E, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Việc mua bán diện tích đất này thì ông không cung cấp được giấy tờ. Số tiền mua diện tích đất này là toàn bộ của ông, không liên quan đến bà H, đây là số tiền của ông và bà Đ bỏ ra mua. Vợ ông là bà Đỗ Thị Đ có đăng ký kết hôn, hiện nay chưa ly hôn.
Đến năm 2006 diện tích đất nêu trên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ bà Nguyễn Thị H, trong hộ của bà H thì có tên ông là chồng. Vào thời điểm năm 2006 hộ gia đình của bà H gồm có các thành viên như sau: Bà Nguyễn Thị H (chủ hộ), con gái Vũ Thị T, sinh năm 1987, con gái Vũ Thị B sinh năm 1989 và Lê Thị N, sinh năm 2000 (con gái ông với bà H).
Đến giữa năm 2018, diện tích nêu trên được khởi công xây dựng thành nhà 5 tầng chưa hoàn thiện vào năm 2021, đến nay vẫn để thô bỏ trống chưa sử dụng. Việc xây dựng nhà, ông là thợ chính, ông trực tiếp thuê thợ và trả tiền công thợ (thợ xây tập trung chủ yếu ở xã P, T, Đ), thợ quản lý chính cho nhà 5 tầng này là anh Q ở xã P. Tổng số tiền ông bỏ ra xây dựng nhà 05 tầng là 1.000.000.000đ. Toàn bộ số tiền này là tiền của ông bỏ ra xây dựng. Hiện nay nhà đất 5 tầng vẫn để không và cho anh L là hàng xóm để nhờ đồ sắt hàn xì.
Vào năm 2017 ông và bà H có thuê 01 diện tích đất là 97m² tại thôn C, xã T (giáp nhà nghỉ H4), ông và bà H đứng tên ký hợp đồng thuê, việc thuê đất của ai thì ông không nhớ, thời hạn thuê là 5 năm, sau đó gia hạn thêm 02 năm, mục đích thuê là mở ảnh Viện áo cưới. Khi thuê là đất trống, ông phải tự bỏ ra xây dựng thành nhà cấp bốn trên lợp tôn, xung quanh lợp tôn, tổng số tiền bỏ ra xây dựng hết 200.000.000đ, số tiền đầu tư cho máy chụp ảnh, váy, xe trị giá hết 200.000.000đ. Toàn bộ số tiền bỏ ra xây dựng ảnh viện là tiền của ông. Ông và cháu bà H là người xây dựng ảnh viện này (cháu bà H là anh Nguyễn Phú T1 ở thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên). Việc khai thác sử dụng ảnh viện từ năm 2017 cho đến năm 2022 là do bà H khai thác thu tiền.
Nay Ông đề nghị Toà án giải quyết các yêu cầu như sau:
- Buộc bà H phải trả lại toàn bộ nhà đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 724, tờ bản đồ số 06 có diện tích là 50m² tại thôn E, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên cho ông. Trên đất là nhà 05 tầng, ông ước tính nhà đất có giá trị là 3.500.000.000₫.
- Buộc bà H phải trả cho ông 200.000.000đ ảnh viện áo cưới T5 mà ông đã bỏ tiền ra xây dựng ảnh viện tại thôn C, xã T. Còn tiền đầu tư cho máy chụp ảnh, váy, xe... ông không yêu cầu.
Bị đơn là bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà và ông Q có mối quan hệ là bạn bè. Về nguồn gốc nhà đất tại thửa số 724, tờ bản đồ số 06, thuộc thôn E, xã T, huyện C, tỉnh Hưng Yên là tiền của mẹ con bà đứng lên mua của Ủy ban nhân dân xã T với giá là 6.000.000đ (ông Vũ Đức Đ1 trúng thầu nên tách ra bán lại cho bà 1 suất), là loại đất ở, diện tích 50m².
Nguồn gốc số tiền mua đất này là của bà và các con bà gồm có Vũ Thị T và Vũ Thị Bích . Vào thời điểm bà mua thửa đất nêu trên thì chị T, chị B chưa lấy chồng. Năm 2000 bà có sinh thêm chị Lê Thị N, chị N lúc đó còn nhỏ nên chưa kiếm được tiền vẫn còn đang đi học. Đến ngày 24/4/2006 thửa đất được Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị H. Vào thời điểm cấp đất, cụ thể năm 2006 thì hộ khẩu trong gia đình bà gồm có các nhân khẩu là bà, chị Vũ Thị T, Vũ Thị B và Lê Thị Ngọc .1 Ngoài ra không còn ai trong khẩu nhà bà.
Năm 1998 bà có ly hôn ông Vũ Đức H2. Bà và ông H2 có 02 con chung tên Vũ Thị T, Vũ Thị Bích . Chị N được sinh ra là do tâm lý về già cần có con trai để lương tựa nên bà đã có quan hệ với một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ và sinh ra chị N vào năm 2000. Không có việc ông Q có tên trong hộ khẩu nhà bà, bởi lẽ ông Q không phải là chồng bà, hay có quan hệ ruột thịt gì nên không có việc bà cho đăng ký thường trú cho ông vào trong sổ hộ khẩu nhà bà. Vào khoảng cuối năm 2017 bà có xây dựng 01 nhà 5 tầng trên thửa đất số 724, tờ bản đồ số 06, thuộc thôn E, xã T, huyện C, tỉnh Hưng Yên. Trong quá trình xây dựng bà có nhờ ông Q đứng ra quản lý, trông nom, thuê thợ xây dựng thành nhà 5 tầng như hiện nay. Toàn bộ số tiền xây dựng nhà 5 tầng là tiền của bà và 02 người con gái là chị T và B. Số tiền bỏ ra xây dựng khoảng 500.000.000đ.
Hiện nay nhà đất này bà vẫn để trống, chưa sử dụng đến (nhà mới hoàn thiện xong phần thô chưa có trang thiết bị, hay sơn...).
Khoảng năm 2018 bà có thuê 1 thửa đất của ông Nguyễn Văn T2 là người ở Chợ G, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên để mở ảnh viện T5, bà chỉ thuê đất, còn xây dựng công trình trên đất là toàn bộ tiền của bà và 02 con gái là chị T và B. Số tiền bỏ ra xây dựng khoảng 160.000.000đ, lúc đó do đang chung nhau nhà nghỉ Hoa Quý cạnh đất bà thuê nên bà có nhờ ông Q đứng ra trông nom, thuê người xây dựng hộ bà, xây dựng ảnh viện Hoa Thuý là chỉ bắn tôn xung quanh. Khi ký kết hợp đồng thuê đất của ông T2, bà là người đứng ra ký thuê, theo hợp đồng thuê là 5 năm, sau đó lại tiếp tục gia hạn hợp đồng là 2 năm. Người đứng ra xây dựng ảnh viện Thúy H3 là anh Nguyễn Phú T1, sinh năm 1989, là cháu họ bà đứng ra xây dựng, bà khẳng định không có việc ông Q bỏ tiền ra xây dựng ảnh viện Thuý Hoa. Toàn bộ số tiền bà đưa cho ông Q để trả tiền thuê thợ, mua vật liệu xây dựng là tiền của bà và 02 con gái bà là chị T và B, không liên quan gì đến ông Q.
Nay ông Q có đơn khởi kiện buộc bà phải trả lại toàn bộ nhà đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 724, tờ bản đồ số 06 có diện tích là 50m² tại thôn E, xã T (trên đất là nhà 05 tầng) và 200.000.000đ tiền xây dựng ảnh viện áo cưới T5, bà không đồng ý với các yêu cầu nêu trên của ông Q. Bởi lẽ nhà đất tại thửa số 724, tờ bản đồ số 06 có diện tích là 50m² tại thôn E, xã T là tài sản của bà và các con bà. Toàn bộ số tiền bỏ ra xây dựng ảnh viện Thúy H3 cũng là tiền của bà không liên quan đến ông Q. Do đó, bà đề nghị Toà án giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Trọng Q.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Đỗ Thị Đ trình bày:
Bà và ông Q có quan hệ pháp luật là vợ chồng, hiện nay cũng chưa ly hôn. Nhưng đã sống ly thân được khoảng 20 năm. Trong thời gian sống ly thân, ông Q không đưa đồng nào cho bà, không đóng góp gì vào việc sinh hoạt cuộc sống mẹ con bà. Bà và ông Q có 02 con chung là Lê Trọng V1 và Lê Thị T3. Việc ông Q có tranh chấp nhà 05 tầng tại thửa số 724, tờ đồ số 06, thuộc thôn E, xã T và ảnh viện áo cưới T5 với bà H3, và nguồn số tiền ông Q mua, góp với bà H3 như thế nào thì bà không biết. Bà khẳng định bà không đóng góp tiền với ông Q để ông Q đưa cho bà H3 mua đất, xây nhà 05 tầng tại thửa đất số 724, tờ đồ số 06, thuộc thôn E, xã T, hay đầu tư xây dựng ảnh viện T5. Từ năm 2000 ly thân cho đến nay về kinh tế, tiền bạc bà và ông Q không có liên quan gì. Nay ông Q có đơn khởi kiện các tranh chấp đối với bà H3, quan điểm của bà là các tranh chấp giữa ông Q và bà H3 không liên quan đến bà. Bà đề nghị Toà án không triệu tập bà đến Toà án làm việc nữa vì bà và ông Q ly thân hơn 20 năm nay, việc ai người nấy làm, kinh tế không chung gì. Bà xin từ chối tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Ngoài ra bà không có yêu cầu độc lập, hay yêu cầu nào khác để giải quyết. Bà đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt bà theo quy định của pháp luật.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Vũ Thị T, Vũ Thị B, chị Lê Thị N: Đều có quan điểm giống với bị đơn là bà Nguyễn Thị H và có quan điểm xin giải quyết vắng mặt.
Xí nghiệp K; Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Hưng Yên có quan điểm: Đối với phần nhà bà H xây lấn ra 9,6m² đất hành lang sông C thuộc quyền khai thác của Xí nghiệp K và xây lấn ra 5,4m² giáp với phần đất công thuộc quyền quản lý đất đai của UBND xã C thì quan điểm của UBND xã C và Xí nghiệp khai thác công trình thủy lợi C không có yêu cầu đề nghị gì trong vụ án này, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật. Đối với phần công trình vi phạm của bà H, khi cần sử dụng vùng phụ cận này thì UBND xã C sẽ phối hợp với Xí nghiệp K để giải quyết, giải tỏa theo quy định của pháp luật hiện hành, 02 cơ quan nêu trên đều có quan điểm giải quyết vắng mặt.
Những người làm chứng có quan điểm:
- Ông Đỗ Quang N1, ông Tạ Văn N2: Khoảng năm 2017 các ông được ông Lê Trọng Q thuê đến dựng nhà tôn khung sắt (làm công) để làm ảnh viện áo cưới tại xã T. Theo đó thì các ông đến làm công, còn nguyên vật liệu thì do chủ nhà cung cấp. Sau khi làm xong thì ông Q là người trả công thợ, số tiền bao nhiêu thì nay các ông không nhớ.
- Ông Phạm Ngọc Q1: Khoảng năm 2018 ông và ông Lê Trọng Q có hợp đồng miệng xây nhà cho ông Q tại xã T (nhà 5 tầng) với tiền công là 300.000đ/1 ngày công. Quá trình xây dựng nhà thì bà H là người trực tiếp trả tiền công thợ cho ông, đến nay bà H đã trả đầy đủ tiền công thợ, tuy nhiên ngôi nhà vẫn chưa hoàn thiện còn nguyên nhân vì sao thì ông không biết.
- Bà Phạm Thị T4: Tờ hoá đơn thanh toán mà ông Lê Trọng Q cung cấp cho Toà án thì bà xác định đây là chữ ký, viết của bà. Ông Q có đến nhờ bà xin xác nhận về việc mua bán tôn sắt, toàn bộ nội dung trong tờ hoá đơn là do ông Q đọc cho bà chứ không phải là ý chí của bà. Do thời gian đã lâu nên bà không nhớ được là bà có bán số tôn sắt cho ông Q, bà không biết số tôn sắt này được chở đến địa chỉ nào, chỉ nghe nói là mua để chở về nhà N, bà không biết rõ dùng số tôn sắt này cho công trình cụ thể nào. Bà không nhớ số tiền bán tôn sắt cho ông Q là bao nhiêu, nhân viên giao hàng của cửa hàng thì không cố định nên bà không xác định được ai là người chở hàng cho ông Q. Bà cũng không rõ nguồn gốc số tiền trả tôn sắt này là của ai, chỉ biết ông Q đến đặt hàng và nhân viên thu tiền về và bà nộp cho Công ty.
- Ông Vũ Đức Đ1: Vào khoảng tháng 6/2006 ông có trúng đấu giá quyền sử dụng đất thôn C, xã T huyện K, tỉnh Hưng Yên, diện tích trúng đấu giá là 100m² thuộc suất số 10, tổng số tiền phải thanh toán là 32.000.000đ (trong đó giá thực tế là 11.510.00đ và 20.000.000₫ là người trúng đấu giá phải bỏ ra để ủng hộ xã làm đường), do không có nhu cầu sử dụng hết diện tích đất nêu trên nên sau khi trúng đấu giá ông đã chuyển nhượng lại 50m² cho bà Nguyễn Thị H, với giá tiền là 16.000.000đ. Bà H là người trực tiếp thanh toán toàn bộ số tiền mua bán đất cho ông, ông không biết ông Lê Trọng Q là ai, ở đâu. Hiện nay thửa đất ông bán cho bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Về việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà H và ông Q, ông đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Bà Đỗ Thị M: Ông Q và bà H không biết có mối quan hệ gì, chỉ biết là cùng chung nhà nghỉ H4. Bà H đã ly hôn chồng và ảnh viện Thúy H3 là tiền của bà H3 bỏ ra xây dựng thuê trên đất của ông Nguyễn Văn T2, bà H3 cũng là người bỏ tiền ra xây ngôi nhà 5 tầng thuộc thôn E, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
- Ông Nguyễn Văn T2: Do không có nhu cầu sử dụng thửa đất tại thôn E, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên nên vào khoảng năm 2017 ông đã cho bà H3 thuê (hiện bà H3 đang làm ảnh viện Thuý Hoa), giá thuê là 2.500.000đ/năm, theo giấy thoả thuận là ký thuê 03 năm. Bà H3 là người trực tiếp thanh toán toàn bộ số tiền thuê đất cho ông. Ông không biết ông Lê Trọng Q là ai, không nhận tiền thuê đất gì của ông Q. Ông chỉ biết cho bà H3 thuê đất để bà H3 mở ảnh viện Thuý Hoa. Khi thuê trên đất không có công trình gì, còn xây dựng như nhà hiện nay là do bà H3 xây dựng chứ không phải ông, hay ông Q là người xây dựng. Ông và bà H3 đã ký gia hạn hợp đồng cho thuê đất đến lần 3, hạn cuối thuê đất đến năm 2026. Ông không có yêu cầu Toà án giải quyết gì đối với bà H3 về diện tích đất ông đang cho bà H3 thuê.
- Anh Nguyễn Phú T1: Vào khoảng 2017-2018 bà H3 có thuê anh đến để xây dựng ảnh viện Thuý Hoa. Số tiền bỏ ra xây dựng là của bà H3, bà H3 là người trả tiền công cho anh, số tiền công mà bà H3 trả cho anh khoảng 8.000.000đ. Xây dựng ảnh viện chủ yếu bắn tôn xung quanh, nền gỗ ép. Tổng số tiền xây dựng ảnh viện Thúy H3 là 160.000.000đ. Toàn bộ số tiền xây dựng đầu tư ảnh viện Thuý Hoa là của bà H3, không liên quan đến ông Q.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2025/DS-ST, ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:
1. Áp dụng: Các Điều 26, 35, 91, 94, 129, khoản 1 Điều 228, 229 BLTTDS; Điều 101, 102, 155, 166, 192, 212, 221 BLDS; Điều 166, 167, 203 Luật đất đai năm 2013 được sửa đổi bổ sung năm 2018; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Nghị quyết số: 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.
2. Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Trọng Q đối với các yêu cầu:
- Buộc bà H3 phải trả lại toàn bộ nhà đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 724, tờ bản đồ số 06 có diện tích là 50m² tại thôn E, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên cho ông. Trên đất là nhà 05 tầng có giá là 3.500.000.000đ.
- Buộc bà H3 phải trả cho ông 200.000.000đ ảnh viện áo cưới T5 mà ông đã bỏ tiền ra xây dựng ảnh viện tại thôn C, xã T, T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Về án phí: Miễn án phí cho ông Lê Trọng Q
Ngoài ra, bản án còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm ông Lê Trọng Q kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm dân sự số 09/2025/DS-ST, ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Hưng Yên. Yêu cầu Tòa án nhâ dân tỉnh Hưng Yên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông buộc bà H3 phải trả ông thửa đất số 724, tờ bản đồ sô 06 diện tích 50m² và công trình xây dựng trên đất. Buộc bà H3 phải trả ông 200.000.000đ tiền ông bỏ ra tu sửa ảnh viện áo cưới.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Lê Trọng Q vẫn giữ nguyên quan điểm và yêu cầu kháng cáo đã trình bày trên.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Trọng Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét, đánh giá toàn diện chứng cứ, quan điểm của Đại diện VKSND tỉnh Hưng Yên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Ông Lê Trọng Q kháng cáo trong thời hạn quy định của pháp luật, đã có đơn xin miễn án nộp tiền tạm ứng án phí nên vụ việc được Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên thụ lý, xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Bị đơn bà Nguyễn Thị H vắng mặt, nhưng có yêu cầu xét xử vắng mặt; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lê đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt, Căn cứ vào Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt những người trên là phù hợp.
[2]. Về nội dung, xét yêu cầu kháng cáo của ông Lê Trọng Q:
[2.1]. Về yêu cầu kháng cáo yêu cầu bà Nguyễn Thị H phải trả ông Q thửa đất số 724, tờ bản đồ số 06, có diện tích 50m² và công trình xây dựng trên đất tại thôn E, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Theo lời khai của bà Nguyễn Thị H thì thửa đất trên do bà nhận chuyển nhượng của ông Vũ Đức Đ1, lời khai của bà H phù hợp với lời khai của ông Vũ Đức Đ1, phù hợp với cung cấp của địa chính xã T cũ xác định thửa đất trên có nguồn gốc là của ông Vũ Đức Đ1 do ông Đ1 trúng đấu giá quyền sử dụng đất thời điểm năm 2006, sau đó ông Đ1 chuyển nhượng một phần thửa đất 50m² cho bà Nguyễn Thị H. Thực tế ngày 14/4/2006 bà H đã được UBND huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên riêng chủ hộ là bà Nguyễn Thị H. Ông Q cho rằng hộ gia đình bà H thời điểm đó có ông, tuy nhiên theo cung cấp của phó thôn E, xã T thì vào năm 2006 hộ gia đình bà H chỉ có bà Nguyễn Thị H, chị Vũ Thị B, chị Vũ Thị T và chị Lê Thị Ngọc C không có tên ông Q. Ngoài ra ông Q cho rằng ông có đưa tiền cho bà H để bà H mua đất, nhưng ông không xuất trình giấy tờ chứng minh có việc ông đưa tiền cho bà H và phía bà H không thừa nhận. Do đó có căn cứ xác định thửa số 724, tờ bản đồ số 06, có diện tích 50m² thuộc quyền sử dụng của bà H.
Đối với lời khai của ông Q cho rằng ngôi nhà 5 tầng trên đất do ông bỏ tiền ra thuê thợ xây là ông Phạm Văn Q2 và ông có giấy biên nhận do ông Q2 viết, tuy nhiên tại biên bản lấy lời khai, ông Phạm Văn Q2 xác định ông Lê Trọng Q chỉ là người trông nom còn bà H là người trực tiếp trả tiền. Về phía ông Q cho rằng ông là người bỏ tiền xây nhà nhưng ông cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho việc ông bỏ tiền ra xây dựng công trình trên thửa đất. Do đó xác định thửa đất số 724, tờ bản đồ số 06, có diện tích 50m² tại thôn E, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ bà Nguyễn Thị H và công trình xây dựng trên đất là tài sản hợp pháp của bà H. Do đó, kháng cáo của ông Q buộc bà H phải trả ông thửa đất trên và công trình xây dựng trên đất là không có căn cứ.
[2.2]. Xét kháng cáo buộc bà H phải trả lại số tiền 200.000.000đ là tiền mà ông đã bỏ tiền ra xây dựng ảnh viện tại thôn C, xã T, T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Theo lời khai của bà H thì bà H là người thuê đất của ông Nguyễn Văn T2 để làm ảnh viện áo cưới, lời khai của bà H phù hợp với lời khai của ông T2 và thực tế hợp đồng thuê do bà H là người thuê và trả tiền. Đối với ông Q cho rằng khi làm ảnh viện áo cưới ông trả tiền cho những người bán vật liệu xây dựng là bà Phạm Thị T4, tuy nhiên bà T4 xác định có viết tờ hóa đơn thanh toán do ông Q đến nhờ bà viết theo lời ông Q đọc chứ không phải ý chí của bà và bà cũng không nhớ được là bà có bán số tôn sắt cho ông Q vì thời gian đã lâu. Trong khi đó về phía bà H xác định do bà bỏ tiền ra làm ảnh viện áo cưới chỉ nhờ ông Q trông nom giúp, lời khai của bà H, phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Phú T1 là người xây dựng ảnh viện áo cưới cho bà H xác định: “Vào khoảng 2017-2018 bà H có thuê anh đến để xây dựng ảnh viện Thuý Hoa. Số tiền bỏ ra xây dựng là của bà H, bà H là người trả tiền công cho anh, số tiền công mà bà H trả cho anh khoảng 8.000.000đ. Xây dựng ảnh viện chủ yếu bắn tôn xung quanh, nền gỗ ép. Tổng số tiền xây dựng ảnh viện Thúy H3 là 160.000.000đ. Toàn bộ số tiền xây dựng đầu tư ảnh viện Thuý Hoa là của bà H3, không liên quan đến ông Q”. Tại phiên tòa hôm nay ông Q không cung cấp được cho Tòa án các tài liệu chứng cứ chứng minh ông là người bỏ số tiền 200.000.000đ để xây dựng ảnh viện Thuý Hoa.
Từ những phân tích trên, quan điểm của Đại diện VKSND tỉnh Hưng Yên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Trọng Q là có cơ sở.
[3] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận nên ông Lê Trọng Q phải chịu án phí phúc thẩm nhưng do ông Q là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí dân sự nên được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 308, Điều 147, 148 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của của ông Lê Trọng Q, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 09/2025/DS-ST, ngày 27/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3, tỉnh Hưng Yên.
Về án phí dân sự: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Lê Trọng Q.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Hữu Tăng |
Bản án số 124/2025/DS-PT ngày 08/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất, kiện đòi tài sản
- Số bản án: 124/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất, kiện đòi tài sản
