|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 TỈNH AN GIANG ————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 111/2025/HS-ST Ngày 05/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Ngô Thị Minh Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Liễu
Bà Trần Thị Lệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: ông Trần Thanh Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2025/TLST-HS ngày 07/11/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2025/QĐXXST-HS ngày 18/11/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị T, sinh ngày 03/4/1993 tại phường R, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: số F đường T, phường R, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Dương Kim T2, sinh năm 1969 (còn sống); có chồng Nguyễn Văn M, sinh năm 1987; con có 01 người sinh năm 2020.
-Tiền sự: Không.
-Tiền án: không.
Bị bắt tạm giam ngày 25/7/2025.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người chứng kiến:
- Anh Bùi Văn Tuấn A, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số A đường N, phường R, tỉnh An Giang.
- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: số F đường T, phường R, tỉnh An Giang
- Ông Nguyễn Hoàng E, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Địa chỉ: số A đường C, phường R, tỉnh An Giang.
- Bùi Thanh P, sinh năm 1997 (vắng mặt).
Địa chỉ: số G A đường Đ, phường R, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 45 phút, ngày 24/7/2025, tại phòng trọ số C, Nhà trọ không tên, số A, đường C, phường R, tỉnh An Giang, Công an phường R, tỉnh An Giang bắt quả tang Nguyễn Thị T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ của T 02 bịch nilon được hàn kín, bên trong có chứa các hạt chất rắn màu trắng, T khai là ma túy đá và một số tài sản khác có liên quan.
Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Thị T bắt đầu sử dụng ma túy khoảng 01 năm trước khi bị bắt quả tang, nguồn ma túy T được bạn bè không rõ nhân thân cho sử dụng. Thông qua các đối tượng trên, T biết được số điện thoại của người tên B (không rõ nhân thân, chỉ biết nhà ở đường U, phường R, tỉnh An Giang). Vào khoảng 12 giờ, ngày 23/7/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy T dùng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung điện thoại cho B (T không nhớ số điện thoại người này, điện thoại dùng để liên lạc T đã làm mất Cơ quan điều tra không thu hồi được) hỏi mua 1.500.000 đồng ma túy thì B đồng ý. Khoảng 20 phút sau, B điều khiển xe mô tô đến khu vực gần nhà trọ của T bán cho T 02 bịch nilon ma túy với số tiền như đã thỏa thuận. Khi nhận ma túy, T thanh toán cho B bằng tiền mặt. Sau khi mua ma túy, T mang về phòng trọ cất giấu 01 bịch ma túy trong hộc tủ bằng nhựa và 01 bịch trong túi quần short Jean của người con của T treo trên vách tường trái (hướng từ ngoài nhìn vào) trong nhà vệ sinh. Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 24/7/2025, T lấy một ít ma túy từ bịch nilon trong hộc tủ nhựa ra sử dụng, số còn lại T cất vào hộp nhựa và để trên nền gạch (phía bên trái từ ngoài nhìn vào) đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ của T 02 bịch nilon ma túy còn lại chưa sử dụng. Ngoài ra, trước đó vào khoảng giữa tháng 6 năm 2025, T cũng đã mua ma túy của B 01 lần với số tiền 500.000 đồng và đã sử dụng hết.
Ngày 02/8/2025, Nguyễn Thị T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A khởi tố, tạm giam để điều tra,
Trong quá trình điều tra và truy tố, bị can có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
* Tại Kết luận giám định số: 132/KL-KTHS, ngày 01/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận:
Mẫu 1: Các hạt chất rắn màu trắng, chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong, gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,5354 gam.
Mẫu 2: Các hạt chất rắn màu trắng, chứa trong 01 (một) bịch nylo được niêm phong, gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1540 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại Bản cáo trạng số 18/CT-VKKV1 ngày 07/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
- Hình phạt bổ sung: Không đề nghị do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định.
- Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng là vật cấm tàng trữ, lưu hành, gồm:
- - Phong bì niêm phong màu trắng, mẫu vật vụ số 1077/2025 Mẫu 01; Ngày 02 tháng 8 năm 2025; Người chứng kiến Nguyễn Giang T3; Giám định viên Nguyễn Hoàng N, có các hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh A, số lượng: 1 cái;
- - Phong bì niêm phong màu trắng, mẫu vật vụ số 1077/2025 Mẫu 02; Ngày 02 tháng 8 năm 2025; Người chứng kiến Nguyễn Giang T3; Giám định viên Nguyễn Hoàng N, có các hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh A, số lượng: 1 cái.
- - 01 (một) quần short Jean, màu xanh, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) hộp nhựa trong suốt đường kính miệng hộp 37cm, cao 07cm, không có nắp đậy, đã qua sử dụng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái, mong được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị T khai nhận: vào khoảng 12 giờ, ngày 23/7/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T dùng điện thoại di động điện thoại cho B hỏi mua 1.500.000 đồng ma túy. Khoảng 20 phút sau, B điều khiển xe mô tô đến khu vực gần nhà trọ của T bán cho T 02 bịch nilon ma túy với số tiền như đã thỏa thuận. Sau khi mua ma túy, T mang về phòng trọ cất giấu 01 bịch ma túy trong hộc tủ bằng nhựa và 01 bịch trong túi quần short Jean của người con của T. Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 24/7/2025, T lấy một ít ma túy từ bịch nilon trong hộc tủ nhựa ra sử dụng, số còn lại T cất vào hộp nhựa ,đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ của T 02 bịch nilon ma túy còn lại chưa sử dụng. Qua giám định các hạt chất rắn màu trắng chứa trong hai bịch nilong hàn kín là ma túy, loại Methamphetamine với khối lượng là 1,6894 gam.
Xét thấy lời khai nhận của bị cáo T về hành vi và các tình tiết của vụ án là phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh A và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Theo đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật 1hình sự: “ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
c) Heroine, C, Methamphetamine, A1, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, tỉnh An Giang truy tố bị cáo với tội danh và Điều luật viện dẫn trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự để nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người, an ninh trật tự, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Tuy nhiên bị cáo vẫn phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nên cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả bị cáo đã gây ra, để giáo dục, cải tạo bị cáo và đảm bảo được tính phòng ngừa chung.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Thị T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo T đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên có căn cứ cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích nêu trên, sau khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T hình phạt tù có thời hạn, giam giữ bị cáo trong một thời gian nhất định để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy:
- - Phong bì niêm phong màu trắng, mẫu vật vụ số 1077/2025 Mẫu 01; Ngày 02 tháng 8 năm 2025; Người chứng kiến Nguyễn Giang T3; Giám định viên Nguyễn Hoàng N, có các hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh A, số lượng: 1 cái;
- - Phong bì niêm phong màu trắng, mẫu vật vụ số 1077/2025 Mẫu 02; Ngày 02 tháng 8 năm 2025; Người chứng kiến Nguyễn Giang T3; Giám định viên Nguyễn Hoàng N, có các hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh A, số lượng: 1 cái.
- - 01 (một) quần short Jean, màu xanh, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) hộp nhựa trong suốt đường kính miệng hộp 37cm, cao 07cm, không có nắp đậy, đã qua sử dụng.
Các vật chứng trên đã được nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 2043/LNK-CSMT, ngày 07/8/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A và Quyết định chuyển vật chứng số 10/QĐVKSKV1 ngày 07/11/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- An Giang.
[7]. Về các vấn đề khác của vụ án: Đối với người đàn ông tên B (chưa xác định được nhân thân và địa chỉ) đã bán ma túy cho T. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau
[8]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025;
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/7/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy:
- - Phong bì niêm phong màu trắng, mẫu vật vụ số 1077/2025 Mẫu 01; Ngày 02 tháng 8 năm 2025; Người chứng kiến Nguyễn Giang T3; Giám định viên Nguyễn Hoàng N, có các hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh A, số lượng: 1 cái;
- - Phong bì niêm phong màu trắng, mẫu vật vụ số 1077/2025 Mẫu 02; Ngày 02 tháng 8 năm 2025; Người chứng kiến Nguyễn Giang T3; Giám định viên Nguyễn Hoàng N, có các hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh A, số lượng: 1 cái.
- - 01 (một) quần short Jean, màu xanh, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) hộp nhựa trong suốt đường kính miệng hộp 37cm, cao 07cm, không có nắp đậy, đã qua sử dụng.
Các vật chứng trên đã được nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 2043/LNK-CSMT, ngày 07/8/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A và Quyết định chuyển vật chứng số 10/QĐVKSKV1 ngày 07/11/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- An Giang.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Minh Trang |
Bản án số 111/2025/HS-ST ngày 05/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 111/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
