|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA Bản án số: 09/2025/HS-ST Ngày 15 - 12 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Minh.
Thẩm phán: Bà Đinh Thị Mai Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Kim Dung, ông Nguyễn Văn Khiển, bà Vi Thị Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
Mùi Văn D, tên gọi khác: Không; sinh ngày 26/10/1964 tại M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản Y, xã T, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: Không; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Mùi Văn E và bà Mùi Thị K (đều đã chết); Vợ là Mùi Thị D1, sinh năm 1966 và có 05 người con (con lớn nhất sinh năm 1987, con nhỏ nhất sinh năm 1997); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2025 đến nay. Có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Phương V - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh S. Có mặt.
- Bị hại: Ông Mùi Văn B2, sinh năm 1961. Địa chỉ: Bản S, xã T, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Mùi Văn B, sinh năm 1997. Địa chỉ: Bản Y, xã T, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người làm chứng:
- + Bà Mùi Thị D1, sinh năm 1966 (vợ bị cáo Mùi Văn D). Địa chỉ: Bản Y, xã T, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Chị Mùi Thị B1, sinh năm 1995 (con gái bị cáo Mùi Văn D). Địa chỉ: Bản S, xã T, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- + Ông Mùi Văn V1, sinh năm 1965 (em vợ bị cáo Mùi Văn D). Địa chỉ: Bản S, xã T, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- + Bà Mùi Thị V2, sinh năm 1963 (vợ bị hại Mùi V). Địa chỉ: Bản S, xã T, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- + Anh Mùi Văn V3, sinh năm 1985 và chị Mùi Thị T, sinh năm 1987 (con trai và con dâu bị hại Mùi Văn B2). Địa chỉ: Bản S, xã T, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- + Anh Mùi Văn M, sinh năm 1977 (con nuôi bị hại Mùi V). Địa chỉ: Bản S, xã T, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 14/6/2025, Mùi Văn D đang ở nhà tại bản Y, xã T, tỉnh Sơn La thì nhận điện thoại của Mùi Văn V4, sinh năm 1983 nhờ D vào nhà ông Mùi Văn B2, sinh năm 1961 (bố đẻ của V4), trú tại bản Sam Kha, xã T, tỉnh Sơn La thịt ba ba chế biến thức ăn để uống rượu. Khoảng 18 giờ 30 phút, Mùi Văn D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 23H5-2746 đến nhà B2 cùng mọi người chế biến thức ăn rồi ngồi vào mâm, lúc đó có 10 người ăn uống, đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì mọi người lần lượt đi về còn lại Mùi Văn D với Mùi Văn B2 và Mùi Văn V1 vẫn tiếp tục uống rượu. Mùi Văn D nói về vấn đề cán bộ sáp nhập, giải thể với nội dung: “Thằng L, thằng N, thằng N1 “Gấu” không biết nhà nước làm kiểu gì mà bây giờ mấy thằng chúng nó được nghỉ không còn làm việc ở cơ sở nữa, với lại chúng nó nghỉ còn được tiền làm bữa cơm ăn ở chỗ nhà thằng N”. Nghe D nói vậy thì B2 nói “Nếu chúng nó làm bữa cơm thì bọn nó sẽ mời anh em mình đến ăn cơm”. Sau đấy, D có nói “Mày thì biết cái chó gì”, nghe vậy B2 nói lại “Mày biết cái chó gì đâu, mày hay khinh người”, rồi D lại nói “Đút B, cả đời tao không vào nhà mày nữa, mày ác quá". Mùi Văn B2 liền dùng tay phải đấm vào đầu của D nhưng được Mùi Văn V1 gạt tay của B2 nên không trúng. Sau đó, Mùi Văn D và Mùi Văn B2 cãi chửi nhau. Do bực tức, D liền đứng dậy đi về nhà vào khu vực bếp lấy 01 con dao sắc nhọn (loại dao mèo) quay lại nhà B2. Trước khi đi, D nói với vợ là Mùi Thị D1 “Vợ ơi, anh B2 đánh đấm anh mấy lần rồi, hôm nay anh tức quá, anh sẽ đi giết anh B2 và sẽ chết thôi, vợ sống với con nhé". Bà D1 do bị nặng tai nên chỉ nghe được nội dung D sẽ sang nhà B2, do đã muộn nên bà D1 có thò tay qua cửa sổ cầm giữ tay D để vào ngủ nhưng D đã giật tay bà D1 rồi cầm theo con dao và điều khiển xe mô tô quay lại nhà anh B2 nhưng lúc này mọi người đã đi ngủ. Don liền chửi “Thằng B2 đâu, mày ngủ ở đâu ra đây. Mày bảo mày là cựu chiến binh mày biết võ mà ra đây thử võ với tao". Sau đó, D cầm theo con dao nhọn đi đến trước cửa phòng ngủ của anh B2 dùng chân phải đạp 02 lần vào cửa phòng ngủ nhưng không mở ra được. Chị Mùi Thị V2 (vợ anh B2) mở cửa phòng đi ra can ngăn Don, lúc này có Mùi Văn M, sinh năm 1977, trú tại bản Sam Kha, xã T, tỉnh Sơn La (là hàng xóm của B2) nghe thấy tiếng D chửi liền chạy sang can ngăn và nói với D “Ông ơi, ông bỏ con dao xuống đi, anh em đừng có giết nhau" thì D nói lại “Cháu ơi, đừng có can ông, can ông thì ông đâm chết cháu, tao giết anh trai tao thôi, chúng cháu không liên quan đâu", rồi M lùi ra phía sau. Lúc này, Mùi Văn B2 ngồi ở cuối giường trong phòng ngủ nghe Don chửi, trước mặt B2 có đặt chiếc quạt cây có cánh màu xanh (loại quạt đứng). Ngay sau đó, D cầm dao đẩy cửa phòng xông vào buồng ngủ của B2, thấy vậy B2 cầm quạt cây ở trước mặt đập trúng vào phần vai trái và vùng bụng, đùi của D, D dùng tay, chân đỡ làm cho quạt bị bung ra và bị thương ở ngón chân, lúc này D cầm con dao bằng tay phải đâm thẳng 01 phát vào ngực phải của Mùi Văn B2, B2 dùng tay phải cầm giữ vào lưỡi dao, D liền rút dao ra thì lưỡi dao cứa vào ngón cái bàn tay phải của B2 khiến B2 ngã gục xuống giường. Don tiếp tục dùng dao chém 01 phát vào đầu gối trái của Mùi Văn B2 rồi đi ra ngoài sân đe dọa mọi người không cho mọi người vào xem thương tích của B2, sau đó D điều khiển xe mô tô đi về nhà. Sau khi xảy ra vụ việc, Mùi Văn V5 trình báo Công an xã T, tỉnh Sơn La đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Hiện trường vụ án: Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 14 giờ 00 phút ngày 15/6/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh S, xác định: Hiện trường vụ án tại phòng ngủ của gia đình Mùi Văn B2 thuộc bản S, xã T, tỉnh Sơn La. Quá trình khám nghiệm đã phát hiện nhiều dấu vết dịch màu nâu (nghi là máu) trên nền hiên nhà, nền phòng ngủ, trên cửa phòng ngủ, trên chăn, ga, đệm, màn trong phòng ngủ.
* Vật chứng của vụ án thu giữ:
- - Thu giữ khi khám nghiệm hiện trường gồm: 05 vết dịch màu nâu đỏ thu giữ ở các vị trí khác nhau trên hiện trường; 01 màn tuyn có bám dính nhiều dịch màu nâu đỏ đã khô; 01 ga màu hồng có kích thước 1,8 m x 1,34 m, trên ga có vết dịch màu nâu đỏ đã khô; 01 ga màu trắng có kích thước 1,5 m x 0,65 m, trên ga có vết dịch màu nâu đã khô (được niêm phong theo quy định).
- - Mùi Văn D giao nộp: 01 chiếc áo phông màu xanh dương, kích thước 66 cm x 50 cm trước ngực có dòng chữ "L1, luôn yêu bạn" màu vàng; hình cờ đỏ sao vàng và 01 chiếc quần soóc bằng vải màu đen, không có nhãn mác (đều đã qua sử dụng); 10 sợi tóc của Mùi Văn D; 01 con dao nhọn (loại dao mèo) có tổng chiều dài từ đầu chuôi dao đến đầu của lưỡi dao là 32 cm, lưỡi dao bằng kim loại có chiều dài 20,5 cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 3,5 cm, chuôi dao làm bằng gỗ có chiều dài 11,5 cm, đường kính 02 cm, có thiết kế khâu dao làm bằng kim loại màu vàng (đã qua sử dụng); 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu đỏ đen, biển kiểm soát 23H5-2746, có số khung: RLHHC09036Y084628; số máy: HC09E - 6084111 (đã qua sử dụng).
- - Mùi Thị V2 giao nộp: 01 chiếc quạt cây màu xanh đen có dòng chữ VIVIKO đã bị hư hỏng tách rời các bộ phận cánh quạt, lồng cánh quạt phía trước, ốp nhựa màu đen bảo vệ động cơ điện (được niêm phong theo quy định).
Ngày 08/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh S đã tiến hành thực nghiệm điều tra cho bị cáo Mùi Văn D diễn tả lại toàn bộ hành vi phạm tội. Kết quả Mùi Văn D diễn tả lại hành vi phạm tội, động tác đã thực hiện phù hợp với các vết thương để lại trên người bị hại, phù hợp lời khai của người làm chứng và vật chứng đã thu giữ.
* Kết quả giám định:
- - Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống đối với Mùi Văn B2, số 201/KLTTCT-TTPYGĐYK, ngày 18/9/2025 của Trung tâm Pháp y Giám định y khoa tỉnh S, xác định: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Mùi Văn B2 tại thời điểm giám định là 57% (Năm mươi bảy phần trăm)”.
- Cơ chế hình thành thương tích: “Thương tích vết thương thấu ngực do tác động trực tiếp của vật sắc nhọn, diện tiếp xúc hoàn toàn, lực tác động mạnh gây ra; Vết thương thấu ngực của Mùi Văn B2 nằm ở vị trí trọng yếu của cơ thể, nếu không được cấp cứu kịp thời nạn nhân sẽ tử vong".
- - Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống đối với Mùi Văn D, số 158/KLTTCT-TTPYGĐYK, ngày 15/7/2025 của Trung tâm Pháp y Giám định y khoa tỉnh S, xác định: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Mùi Văn D tại thời điểm giám định là 01% (Một phần trăm)”. Cơ chế hình thành thương tích: "Thương tích sẹo vết thương phần mềm ngón IV bàn chân phải do tác động trực tiếp với vật tày có cạnh diện tiếp xúc giới hạn gây ra".
- - Tại Kết luận giám định về ADN số 367/25/KLGĐADN-VPYQG ngày 23/6/2025 của V6, kết luận: "Dữ liệu ADN thu từ các mẫu ký hiệu M3, M4, M5, M6 (màn tuyn, ga màu hồng, ga màu trắng), D1 (phần lưỡi dao) trùng khớp hoàn toàn với ADN của Mùi Văn B2 trên tất cả các locus STR đã phân tích".
- - Tại Công văn số số 423 ngày 17/7/2025 của V6 về bổ sung nội dung giám định: "Trên con dao ký hiệu D1 (phần cán dao) có hiện diện ADN của Mùi Văn D trên tất cả các locus STR đã so sánh".
- - Tại bản Kết luận giám định số 1195/KL-KTHS ngày 02/10/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh S, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu V367-25 là dao sắc, nhọn; thuộc dao có tính sát thương cao (quy định tại mục 1, phụ lục 5, Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C và quy định tại khoản 6, Điều 2, Luật số 42/2024/QH15 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ). Dao còn sử dụng được”.
Đối với hành vi Mùi Văn B2 dùng quạt đập vào người Mùi Văn D xác định là hành vi phòng vệ chính đáng. Do vậy không đề cập biện pháp xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Mùi V yêu cầu Mùi Văn D bồi thường thiệt hại về sức khoẻ, tinh thần số tiền 95.000.000 đồng. Ngày 15/9/2025, Mùi Văn D đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho Mùi Văn B2 số tiền là 10.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, Mùi Văn D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội gây ra và đại diện gia đình Mùi Văn D đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho Mùi Văn B2. Ngày 16/9/2025, bị hại Mùi Văn B2 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Mùi Văn D.
Về vật chứng của vụ án: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã ban hành Quyết định chuyển vật chứng vụ án (nêu trên) đến Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La và được bảo quản tại kho vật chứng chờ xử lý.
Do có hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 18/CT-VKSSL-P2 ngày 06 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Mùi Văn D về tội: Giết người theo điểm n khoản 1 Điều 123 và tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- - Bị cáo Mùi Văn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, bị cáo không khai báo gì thêm.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên quyết định truy tố, phát biểu trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 304; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Mùi Văn D phạm tội Giết người và tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng. Xử phạt bị cáo Mùi Văn D từ 09 đến 10 năm tù về tội Giết người; từ 01 đến 01 năm 06 tháng tù về tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, buộc bị cáo Mùi Văn D phải chấp hành từ 10 năm đến 11 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị hại Mùi V yêu cầu bị cáo Mùi Văn D bồi thường thiệt hại về sức khoẻ, tinh thần số tiền 70.000.000 đồng. Bị cáo Mùi Văn D đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho bị hại Mùi Văn B2 số tiền 10.000.000 đồng. Buộc bị cáo Mùi Văn D còn phải bồi thường tiếp cho bị hại Mùi Văn B số tiền 60.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao nhọn; 01 chiếc quạt cây màu xanh đen có dòng chữ VIVIKO đã bị hư hỏng tách rời các bộ phận cánh quạt, lồng cánh quạt phía trước, ốp nhựa màu đen bảo vệ động cơ điện; 01 chiếc áo phông màu xanh dương, kích thước 66 cm x 50 cm, trước ngực có dòng chữ "L1, luôn yêu bạn" màu vàng; hình cờ đỏ sao vàng và 01 chiếc quần soóc bằng vải màu đen, không có nhãn mác (đều đã qua sử dụng); 01 màn tuyn có bám dính nhiều dịch màu nâu đỏ đã khô; 01 ga màu hồng có kích thước 1,8 m x 1,34 m, trên ga có vết dịch màu nâu đỏ đã khô trên diện 37 x 27 cm; 01 ga màu trắng có kích thước 1,5 m x 0,65 m, trên ga có vết dịch màu nâu đã khô trên diện 25 x 34 cm (Toàn bộ số vật chứng trên đã được niêm phong theo quy định).
- Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Mùi Văn B 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu đỏ đen, BKS 23H5-2746, số khung: RLHHC09036Y084628; số máy: HC09E-6084111 (đã qua sử dụng).
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
- - Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí quan điểm truy tố của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng. Sau khi bị bắt, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng; tại phiên toà bị cáo và bị hại tự nguyện thoả thuận bồi thường thiệt hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; anh trai bị cáo là Mùi Văn X có công với cách mạng (là liệt sỹ). Mặt khác, bị cáo phạm tội chưa đạt. Do đó Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 57 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật; xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
- - Bị cáo Mùi Văn D: Nhất trí với lời bào chữa của Luật sư, không có ý kiến tranh luận; mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- - Bị hại Mùi Văn B2: Yêu cầu bị cáo Mùi Văn D phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khoẻ, tinh thần cho bị hại số tiền 70.000.0000 đồng. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Mùi Văn B: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho anh được xin lại chiếc xe máy mà cơ quan điều tra đã thu giữ, vì đây là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tại liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Mùi Văn D:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Mùi Văn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, cụ thể: Vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong lúc ăn cơm, uống rượu nên Mùi Văn D đã nảy sinh ý định dùng dao giết Mùi Văn B2 (là anh trai của bị cáo). Tối ngày 14/6/2025 Mùi Văn D đã sử dụng 01 dao nhọn có chiều dài lưỡi dao 20,5cm, cán dao dài 11,5cm (Theo kết luận giám định là vũ khí quân dụng) đâm một nhát vào ngực phải (là vùng trọng yếu của cơ thể), khứa vào tay và chém một nhát vào gối chân trái của Mùi Văn B2 gây tổn thương cơ thể là 57%. Việc Mùi Văn B2 không chết là do được đưa đi cấp cứu kịp thời.
Lời khai nhận tội của bị cáo Mùi Văn D tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Kết quả điều tra, Quyết định truy tố được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm vào hồi 00 giờ 30 phút ngày 15/6/2025; Biên bản khám nghiệm hiện trường lập hồi 14 giờ 00 phút ngày 15/6/2025 tại Bản S, xã T, thị xã M, tỉnh Sơn La kèm sơ đồ hiện trường và 30 bản ảnh; Kết luận giám định ADN; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 15/6/2025;
- Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống đối với Mùi Văn B2, số 201/KLTTCT-TTPYGĐYK ngày 18/9/2025 của Trung tâm Pháp y Giám định y khoa tỉnh S, xác định: “………Vết thương thấu ngực của Mùi Văn B2 nằm ở vị trí trọng yếu của cơ thể, nếu không được cấp cứu kịp thời nạn nhân sẽ tử vong". Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Mùi Văn B2 tại thời điểm giám định là 57% (Năm mươi bảy phần trăm); Biên bản thực nghiệm điều tra hồi 14 giờ 30 phút ngày 08/10/2025 kèm theo 32 bản ảnh;
- Kết luận giám định số 1195/KL-KTHS ngày 02/10/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu V367-25 là dao sắc, nhọn; thuộc dao có tính sát thương cao. Dao còn sử dụng được”.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; người làm chứng bà Mùi Thị V2, chị Mùi Thị T, anh Mùi Văn M và những người làm chứng khác; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án và tranh tụng tại phiên tòa.
Với các căn cứ chứng minh trên, có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Mùi Văn D thể hiện tính côn đồ, hung hãn, dung hung khí nguy hiểm tấn công vào vị trí trọng yếu trên cơ thể của bị hại Mùi Văn Biên là những vùng có các cơ quan quan trọng quyết định đến sự sống của con người. Bị hại không chết là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” thuộc trường hợp “Phạm tội chưa đạt”, có tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, theo Kết luận giám định số 1195/KL-KTHS ngày 02/10/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu V367-25 là dao sắc, nhọn; thuộc dao có tính sát thương cao. Dao còn sử dụng được”.
Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ thì con dao mà bị cáo Mùi Văn D sử dụng trái phép để tấn công bị hại Mùi Văn B2 là con dao có tính chất sát thương cao, thuộc vũ khí quân dụng. Do đó hành vi của Mùi Văn D đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Bị cáo là nhân dân lao động; chưa có tiền án, tiền sự.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; tại phiên toà bị cáo và bị hại tự nguyện thoả thuận bồi thường thiệt hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; ông Mùi Văn X (anh trai của bị cáo) là liệt sỹ được Hội đồng Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng ba. Đây là những tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, hành vi phạm tội của bị cáo chưa gây hậu quả làm chết người nên thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Do đó cần áp dụng khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Mùi Văn D.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ, quyết liệt, coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Ngoài ra, bị cáo còn sử dụng dao trái phép đã vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng. Xét thấy, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra mới đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Do bị cáo phạm 02 tội, vì vậy cần tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 4 Điều 123 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm”. Xét bị cáo là nhân dân lao động, cư trú ổn định tại địa phương. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
Hành vi của bị cáo Mùi Văn D đã xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của bị hại Mùi V gây thương tích tổn hại 57% sức khoẻ nên bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự, gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại và của một người chăm sóc bị hại trong thời gian điều trị tại Bệnh viện; tổn thất tinh thần của người bị hại.
Tại phiên tòa, bị hại Mùi Văn B2 và bị cáo Mùi Văn D cùng gia đình tự nguyện thoả thuận như sau: Bị cáo nhất trí bồi thường cho bị hại tổng số tiền 70.000.000 đồng; gia đình bị cáo đã bồi thường 10.000.000 đồng. Vì vậy, bị cáo còn phải bồi thường tiếp tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng). Xét thấy, việc thoả thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo, gia đình bị cáo và bị hại là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, cần chấp nhận.
[7] Về xử lý vật chứng, tài sản vụ án:
- Đối với 01 con dao nhọn (loại dao mèo) có tổng chiều dài từ đầu chuôi dao đến đầu của lưỡi dao là 32 cm, lưỡi dao bằng kim loại có chiều dài 20,5 cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 3,5 cm, chuôi dao làm bằng gỗ có chiều dài 11,5 cm, đường kính 02 cm, có thiết kế khâu dao làm bằng kim loại màu vàng (đã qua sử dụng) là hung khí bị cáo sử dụng để phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 màn tuyn có bám dính nhiều dịch màu nâu đỏ đã khô; 01 ga màu hồng có kích thước 1,8 m x 1,34 m, trên ga có vết dịch màu nâu đỏ đã khô; 01 ga màu trắng có kích thước 1,5 m x 0,65 m, trên ga có vết dịch màu nâu đã khô (được niêm phong theo quy định); 01 chiếc áo phông màu xanh dương, kích thước 66 cm x 50 cm trước ngực có dòng chữ "L1, luôn yêu bạn" màu vàng; hình cờ đỏ sao vàng và 01 chiếc quần soóc bằng vải màu đen, không có nhãn mác; 01 chiếc quạt cây màu xanh đen có dòng chữ VIVIKO đã bị hư hỏng tách rời các bộ phận cánh quạt, lồng cánh quạt phía trước, ốp nhựa màu đen bảo vệ động cơ điện không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu đỏ đen, biển kiểm soát 23H5 - 2746, có số khung: RLHHC09036Y084628; số máy: HC09E-6084111 (đã qua sử dụng) là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Mùi Văn B. Quá trình bị cáo sử dụng để đi thực hiện hành vi phạm tội, anh Mùi Văn B không biết, không tham gia. Do đó, cần trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Mùi Văn B.
[8] Về án phí:
Bị cáo Mùi Văn D là người cao tuổi. Mặt khác, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 304; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 3 Điều 57; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Mùi Văn D phạm tội: Giết người và tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng. Xử phạt bị cáo Mùi Văn D 10 (Mười) năm, 06 (Sáu) tháng tù về tội Giết người; 01 (Một) năm tù về tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội, buộc bị cáo Mùi Văn D phải chấp hành là 11 (Mười một) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 15/6/2025).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Mùi Văn D.
2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015:
Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần và tiền khám chữa bệnh của bị hại Mùi Văn B2 và bị cáo Mùi Văn D. Buộc bị cáo Mùi Văn D phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Mùi V số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).
“Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không chịu thi hành thì hàng tháng còn phải chịu thêm phần lãi theo lãi suất tính trên số tiền còn phải thi hành theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong”.
3. Về xử lý vật chứng, tài sản vụ án:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
3.1. Tịch thu tiêu huỷ:
- - 01 (Một) con dao nhọn (loại dao mèo) có tổng chiều dài từ đầu chuôi dao đến đầu của lưỡi dao là 32 cm, lưỡi dao bằng kim loại có chiều dài 20,5 cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 3,5 cm, chuôi dao làm bằng gỗ có chiều dài 11,5 cm, đường kính 02 cm, có thiết kế khâu dao làm bằng kim loại màu vàng (đã được niêm phong theo quy định).
- - 01 (Một) chiếc quạt cây màu xanh đen có dòng chữ VIVIKO đã bị hư hỏng tách rời các bộ phận cánh quạt, lồng cánh quạt phía trước, ốp nhựa màu đen bảo vệ động cơ điện (đã được niêm phong theo quy định).
- - 01 (Một) màn tuyn có bám dính nhiều dịch màu nâu đỏ đã khô; 01 (Một) ga màu hồng có kích thước 1,8 m x 1,34 m, trên ga có vết dịch màu nâu đỏ đã khô trên diện 37 x 27 cm; 01 (Một) ga màu trắng có kích thước 1,5 m x 0,65 m, trên ga có vết dịch màu nâu đã khô trên diện 25 x 34cm (đã được niêm phong theo quy định).
- - 01 (Một) chiếc áo phông màu xanh dương, kích thước 66 cm x 50 cm trước ngực có dòng chữ "L1, luôn yêu bạn" màu vàng; hình cờ đỏ sao vàng và 01 (Một) chiếc quần soóc bằng vải màu đen, không có nhãn mác (đã được niêm phong theo quy định).
3.2. Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Mùi Văn B:
- 01 (Một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu đỏ đen, BKS 23H5-2746; số khung: RLHHC09036Y084628; số máy: HC09E-6084111 (xe đã qua sử dụng).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La).
4. Về án phí:
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Miễn án phí Hình sự và án phí Dân sự sơ thẩm cho bị cáo Mùi Văn D.
5. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/12/2025).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Tuấn Minh |
11
12
Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về vụ án hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 09/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội giết người, tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng
